|
“Như nước Ðại Việt ta từ trước, dẫu mạnh yếu có lúc khác
nhau, song hào kiệt đời nào cũng có”. Nguyễn Trãi - Bình
Ngô Ðại Cáo.
Lời người viết: Công lao những người cầm súng
bảo vệ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) trong suốt 25 năm là điều rất đáng tri
ân, khâm phục. Nhưng đáng tôn vinh hơn, khi sau 30-4-1975, lúc giặc
Cộng đã tràn ngập miền Nam, tướng Dương Văn Minh đã đầu hàng, VNCH không
còn nữa, tổ chức Quân Lực VNCH ngưng hoạt động, thì tại nhiều nơi trong
nước, vẫn có những tổ chức võ trang nổi lên chống lại cộng sản (CS) Bắc
Việt. Họ gồm đủ mọi thành phần: Nam, nữ quân nhân, sĩ quan, hạ sĩ quan,
binh sĩ, các tổ chức tôn giáo chính trị, các thường dân buôn bán, các
sinh viên học sinh, các giáo sư, nhà văn, nhà báo thậm chí đến cả các
thương phế binh những người còn đủ khả năng chiến đấu. Những người con
yêu tuấn liệt đó của miền Nam Việt Nam, bằng trái tim yêu nước rực lửa
và tinh thần bất khuất sắt đá “thà chết chứ không khuất phục cộng sản.”.
Ôi! Vinh hiển thay! Họ đã đi vào cõi chết để tìm sự sống cho nhiều
chục triệu sinh linh và chính nhờ những hy sinh cao đẹp đó, đã tiếp lửa
cho ngọn đuốc chính nghĩa tự do được trường tồn.
Chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc một trong những tấm gương sáng
chói, vị anh hùng kiệt liệt: Ðại Úy Nguyễn Văn Viên. Cựu Mũ Ðỏ Phạm Huy
Sảnh 3/2009. Tôi biết Ðại Úy Nguyễn Văn Viên từ năm 1955 khi ông làm
Tiểu Ðoàn Trường (TÐT) Tiểu Ðoàn 5 Nhảy Dù (TÐ5ND), ông thường sang thăm
Ðại Úy Phan Trọng Chinh Tiểu Ðoàn Trưởng TÐ3ND và Trung Úy Ðỗ Kế Giai,
Tiểu Ðoàn Phó. Lúc đó tôi là Thiếu Úy, Trung Ðội Trưởng của TÐ3ND. Ông
Viên người nhỏ con, gầy, sinh trưởng ở miền Nam, ăn nói nhẹ nhàng như
con gái, nhìn sắc diện ông không có vẻ “lính nhảy dù”. Nhưng mẫu người
đó đã để lại trong ký ức tôi hình ảnh một cấp chỉ huy thật gan dạ. Ði
hành quân dù trong thành phố hay dã ngoại, trong lúc đạn dịch bắn như
mưa rào, ông lúc nào cũng đội mũ đỏ đứng chỉ huy. Khi nhắc đến Ðại Úy
Nguyễn Văn Viên không thể không nói tới đơn vị mà từ đó, ông trưởng
thành trong đời binh nghiệp: TÐ5ND.
Trong
quân sử Việt Nam Cộng Hoà có lẽ TÐ5ND là lò luyện thép đã sản xuất các
cán bộ chỉ huy xuất sắc, và là đơn vị cấp Tiểu Ðoàn tham dự nhiều trận
đánh nhất trong quân lực. Về cấp Tướng Lãnh, TÐ5ND đã đào luyện được 7
vị: Nguyễn Chánh Thi, Ngô Quang Trưởng, Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú,
Hồ Trung Hậu, Lê Quang Lưỡng, và Vũ Văn Giai. Nếu so sánh về thâm niên
quân vụ của các Tiểu Ðoàn Nhảy Dù thì TÐ5ND đứng vào hàng thứ ba. Thành
lập ngày 1 tháng 9/1953 tại Hà Nội. Tiểu Ðoàn thâm niên thứ hai là TÐ3ND
thành lập ngày 1 tháng 9/1952 cũng tại Hà Nội. Tiểu Ðoàn thâm niên hơn
cả là TÐ1ND được thành lập từ 15 tháng 7 năm 1951 tại Sài Gòn. Vào cuối
năm 1953, thêm TÐ7ND cũng được thành lập tại Hà Nội ngày 1-11-1953,
nhưng sau đó lại giải tán vào khoảng tháng 12 năm 1954 tại Ðồng Ðế, Nha
Trang để lấy quân số bổ sung cho TÐ5ND được tái thành lập sau khi đã
thiệt hại 100% tại trận Ðiện Biên Phủ. Tiểu Ðoàn son trẻ nhất là TÐ6ND
(hậu thân của Tiểu Ðoàn 19 Bộ Binh của Thiếu Tá Ðỗ Cao Trí) thành lập
ngày 1 tháng 5 năm 1954.
Nếu làm thống kê về các Tướng Lãnh xuất thân từ các Tiểu Ðoàn Nhảy Dù
nguyên thủy, chúng ta có thể liệt kê thêm quí vị xuất thân từ TÐ3ND có 4
vị, Phan Trọng Chinh, Ðỗ Kế Giai, Trương Quang Ân và Trần Quốc Lịch -
xuất thân từ TÐ6ND có 2 vị, Lê Nguyên Vĩ và Chuẩn Tướng Nguyễn Trọng Bảo
(truy thăng), TÐ1ND là đơn vị đào tạo ra 4 vị: Nguyễn Khánh, Nguyễn Văn
Vỹ, Ðỗ Cao Trí, và Dư Quốc Ðống. Về hàng Tiểu Ðoàn Trưởng xuất sắc TÐ5ND
đã cung ứng cho quân đội VNCH như: Nguyễn Văn Viên, Ngô Xuân Soạn, Ngô
Quang Trưởng, Nguyễn Khoa Nam, Hồ Trung Hậu, Hồ Tiêu, Lê Quang Lưỡng.
Riêng Ngô Lê Tĩnh từng làm Tiểu Ðoàn Trưởng TÐ2ND và TÐ11ND. Hai Tiểu
Ðoàn này đều thành lập sau.
Nói tóm lại TÐ5ND đã lừng lững đứng hàng đầu trong Thiên Anh Hùng Sử của
Quân Lực VNCH.
CÁC SĨ QUAN CỦA TIỂU ÐOÀN 5 NHẢY DÙ TRONG
NHỮNG
NGÀY ÐẦU TIÊN KHI PHÁP TRAO LẠI CHO VIỆT NAM CHỈ HUY
(Hình tư liệu của TÐ5ND chụp tháng 9 năm 1954

Hàng đứng từ trái qua:
Nguyễn Ðức Huy (K10 Ðà Lạt), Vũ Văn Giai (K10 Ðà Lạt), Nguyễn Mộng Hùng
(K4 Thủ Ðức), Nguyễn Minh Tiến (K4 Thủ Ðức).
Hàng giữa:
Lê Quang Lưỡng (K4 Thủ Ðức), Võ Mạnh Ðông (K4 Thủ Ðức), Ðào Văn Lượng
(K4 Thủ Ðức), Nguyễn Trường Tự (K10 Ðà Lạt), Ngô Quang Trưởng (K4 Thủ
Ðức), Phạm Hi Mai (K4 Thủ Ðức), Vũ Văn Ngói (K4 Thủ Ðức).
Hàng ngồi dưới cùng:
Phạm Ngọc Linh (K4 Thủ Ðức), Nhâm Ngọc Hựu (K4 Thủ Ðức),
Trung Úy Nguyễn
Văn Viên Tiểu Ðoàn Trưởng (K6 Ðà Lạt), Trần Huy Chương (K4 Thủ Ðức),
Nguyễn Văn Tư (K4 Thủ Ðức).
16 sĩ quan trong tấm hình lịch sữ 55 năm sau; 14 vị đã trở thành người
thiên cổ, 2 vị còn lại là Chuẩn Tướng Vũ Văn Giai (Santa Ana) và Trung
Tá Nguyễn Mộng Hùng (San Jose).
Ghi chú: Hình còn thiếu các sĩ quan: Võ Trọng Hầu (K4 Thủ Ðức) và các sĩ
quan của K4 Phụ Cương Quyết tốt nghiệp Võ bị Ðà Lạt đáo nhậm TÐ5ND vào
đầu tháng 12/1954 gồm có: Nguyễn Nghiêm Tôn, Trần Văn Huyên, Nguyễn Văn
Minh, Nguyễn Văn Nghĩa, Nguyễn Duy Khoa, Ngô Lê Tĩnh, Lê Ngọc Tô, Nguyễn
Văn Vỹ, Nguyễn Văn Thụ, Trần Văn Nguyên, và Trần Hữu Bào.
Nguyễn Văn Viên
1951, một thanh niên miền Nam, sau khi tốt nghiệp trung học rồi theo
tiếng gọi của núi sông, ông tình nguyện vào quân ngũ (Khoá 6 Võ Bị Ðà
Lạt) để chống lại bọn cộng phỉ đang dày xéo quê hương. Nhưng đường hoạn
lộ của người thanh niên yêu nước đã gặp đầy gian truân, chướng ngại.
Cùng đơn vị đầu đời là TÐ5ND, ông 2 lần nhảy dù xuống mặt trận Ðiện Biên
Phủ. Lần thứ nhất ngày 23 tháng 11 năm 1953 để giúp vị Tư Lệnh Mặt Trận
Ðại Tá De Castrie thiết lập các cứ điểm quân sự trọng yếu. Lần th 2
ngày 14 tháng 3 năm1954, TÐ5ND lại được thả xuống để tiếp cứu Ðiện Biên
Phủ. Ngay khi các cánh dù còn lơ lửng trên cao, hoả lực của quân CS bố
trí từ những cao điểm xung quanh căn cứ thi nhau tác xạ. Khi quân bạn
vừa đặt chân xuống đất thì ta và địch hỗn chiến khốc liệt. Trung Úy
Nguyễn Văn Viên sĩ quan phụ tá đứng hàng thứ 3 trong Tiểu Ðoàn) của
TÐ5ND bị thương nặng nên được không vận di tản về bệnh viện Ðôn Thủy Hà
Nội cấp cứu. Toàn bộ TÐ5ND (trong số đó có Trung Úy Ðại Ðội Trưởng Phạm
Văn Phú; sau này lên Tướng) được coi là những đơn vị sau cùng đã chiến
đấu dũng cảm cho đến khi chiến trường Ðiện Biên Phủ hoàn toàn im tiếng
súng.
Tháng 3 năm 1955, từ Ðồng Ðế Nha Trang, 2 Tiểu Ðoàn Nhảy Dù được điều
động về Sài Gòn tham dự cuộc hành quân dẹp loạn Bình Xuyên.
1) TÐ3ND do Ðại Úy Nhiệm Chức Phan Trọng Chinh mới nhận Tiểu Ðoàn do
Pháp trao lại. Từ chức vụ Ðại Ðội Trưởng ông trở thành vị Tiểu Ðoàn
Trưởng Việt Nam đầu tiên.
2) TÐ5ND cũng do Pháp chuyển giao lại do Trung Úy Nguyễn Văn Viên, sĩ
quan phụ tá của Tiểu Ðoàn được đôn lên làm Tiểu Ðoàn Trưởng cũng là
người Việt Nam đầu tiên.
Khi các lực lượng của chính phủ hồi đó đã đánh đuổi quân phiến loạn Bình
Xuyên khỏi Sài Gòn - Chợ Lớn, các sĩ quan sau đây đã được thăng cấp:
Thiếu Tá Ðỗ Cao Trí lên Trung Tá, các Ðại Úy Nguyễn Chánh Thi và Vũ
Quang Tài lên Thiếu Tá. Có điều đặc biệt là Trung Úy Nguyễn Văn Viên,
Trung Úy Ðỗ Kế Giai lên Ðại Úy thực thụ và Ðại Úy nhiệm chức Phan Trọng
Chinh cũng được điều chỉnh đều là Ðại Úy thực thụ cùng ngày. Sau đó Ðại
Úy Viên trao TÐ5ND cho Thiếu Tá Nguyễn Chánh Thi. Ðại Úy Nguyễn Văn Viên
về chỉ huy TÐ6ND thay Thiếu Tá Ðỗ Cao Trí. Ông Trí mới được thăng cấp
Trung Tá và trở thành Chỉ HuyTrưởng Liên Ðoàn Nhảy Dù Việt Nam gồm:
1. TÐ1ND Tiểu Ðoàn Trưởng: Thiếu Tá Vũ Quang Tài (mới thăng cấp)
2. TÐ3ND Tiểu Ðoàn Trưởng: Ðại Úy Phan Trọng Chinh
3. TÐ5ND Tiểu Ðoàn Trưởng: Thiếu Tá Nguyễn Chánh Thi (mới thăng cấp)
4. TÐ6ND Tiểu Ðoàn Trưởng: Ðại Úy Nguyễn Văn Viên (mới thăng cấp).
Kế tiếp Liên Ðoàn Nhảy Dù tiếp tục hành quân truy kích “Tướng” Bảy Viễn
và tàn quân tại khu Rừng Sát. Vào thời gian này Thiếu Tá Nguyễn Chánh
Thi lên làm Chỉ Huy Phó LÐND, ông trao TÐ5ND cho Ðại Úy Ngô Xuân Soạn
làm Tiểu Ðoàn Trưởng.
Khi kết thúc cuộc hành quân tiểu trừ tàn quân Bình Xuyên tại Sài Gòn -
Chợ Lớn và Rừng Sát Sài Gòn, các đơn vị nhảy dù lại được điều động hành
quân tại Núi Bà Ðen Tây Ninh dẹp lực lượng Cao Ðài ly khai, và chiến
dịch Ðinh Tiên Hoàng để bình định Miền Tây.
Có thể nói trong suốt gần 2 năm 1955 và 1956, lực lượng nhảy dù đã là
cái xương sống chống đỡ cho nội các của chính phủ Ngô Ðình Diệm đứng
vững trước cơn bão táp chính trị tạo nên bởi CẢ BẠN - các lực lượng giáo
phái và tổ chức chính trị - LẪN THÙ - phe thân Pháp và tàn dư - Nói một
cách khác nếu không có những người lính MŨ ÐỎ đã hy sinh xương máu vì
lòng yêu nước đối với quốc gia dân tộc thì NỀN ÐỆ NHẤT CỘNG HOÀ CỦA MIỀN
NAM VIỆT NAM không thể hình thành!
Bởi trước những mua chuộc bằng tiền bạc, bổng lộc, quyền lợi rồi liên hệ
tình cảm của người Pháp lúc đó; chỉ cần một cái gật đầu ưng thuận của
Trung Tá Ðô Cao Trí vị Chỉ Huy Trưởng Lực Lượng Nhảy Dù, hoặc bất cứ một
vị Tiểu Ðoàn Trưởng mũ đỏ nào đang hành quân, không cần phải chống lại
Thủ Tướng Diệm mà chỉ cần án binh bất động không thôi, cũng đủ tạo thời
cơ cho Tướng Nguyễn Văn Hinh phe thân Pháp khuấy động tình thế, khiến
cho nội các của Chính Phủ Diệm phải sụp đổ, dù cho ông Diệm có được sự
hậu thuẫn của Tướng Trình Minh Thế và một số các đơn vị của Giáo Phái
Cao Ðài.
Tôi còn nhớ ngay sau khi quân bạn đã đánh đuổi các đơn vị Bình Xuyên
khỏi Sài Gòn và Chợ Lớn, “Tướng” Bảy Viễn và dư đảng chạy về ẩn náu
trong khu Rừng Sát, Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm tổ chức buổi tiếp tận vào
buổi trưa (tôi không nhớ rõ ngày) để khoản đãi và tưởng thưởng các cấp
chỉ huy của đơn vị nhảy dù tham chiến, Thủ Tướng Diệm đến bắt tay từng
sĩ quan chúng tôi. Trong ánh mắt long lanh biểu lộ sự xúc động ông nói
rất chậm: ”Việc tái lập an ninh tại thủ đô là nhờ công lao của các chiến
sĩ, tôi và chính phủ sẽ không bao giờ quên! ..”
Gần 2 năm chinh chiến để chu toàn trọng trách từ dẹp quân phiến loạn
Bình Xuyên tại Sài Gòn, tại Rừng Sát, bình định các lực lượng giáo phái
ly khai tại Tây Ninh và các tỉnh miền Tây. Lực lượng nhảy dù là nỗ lực
chính giúp chính phủ Ngô Ðình Diệm ngăn chặn được các mũi tấn công quân
sự, chính trị để cuối cùng ông đã thành công trong việc ổn định xáo trộn
chính trị, vãn hồi trật tự xã hội, tại thủ đô Sài Gòn cũng như từ vĩ
tuyến 17 xuống mũi Cà Mau, công lao đó của các chiến sĩ Mũ Ðỏ được coi
là những công thần lập quốc của NỀN CỘNG HOÀ NAM VIỆT NAM. Hy vọng mai
này những người viết sử sẽ không quên.
Năm 1957, Ðại Úy Viên đang làm Tiểu Ðoàn Trưởng TÐ6ND đột nhiên tai hoạ
xảy đến cho ông, vì một lỗi lầm của thuộc hạ ông phải gánh hết trách
nhiệm và bị giải ngũ. Ra khỏi quân đội ông đi dạy học và vợ ông buôn bán
mưu sinh. Ông cảm nhận sống đời “phó thường dân” và nghĩ rằng đã cố gắng
đóng góp đủ nghĩa vụ cho đất nước. Năm 1972, ông được lệnh tái ngũ theo
lệnh của Bộ Quốc Phòng vì nhu cầu cần cán bộ chỉ huy. Ông bổ sung về
SÐ9BB và được chỉ định làm Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh của Sư Ðoàn.
Có người nói rằng đường hoan lộ của ông sinh động như “bức tranh vân
cẩu” bởi vào thời điểm này các Thiếu Úy Vũ Văn Giai đã là Chuẩn Tướng Tư
Lệnh SÐ3BB và Lê Quang Lưỡng tư lệnh SÐ Nhảy Dù. Thiếu Úy Ngô Quang
Trưởng một sĩ quan đàn em rất thân tín của ông thời còn ở TÐ5ND đã lên
Thiếu Tướng và hiện đang là Tư Lệnh Quân Ðoàn 4 mà SÐ9BB là đơn vị cơ
hữu.
Truyện được kể rằng hồi đó, có lần Tướng Trưởng xuống thăm Bộ Tư Lệnh
SÐ9BB. Ngẫu nhiên Tướng Trưởng tao ngộ vị xếp cũ của mình trong hàng
quân. Tướng Trưởng thân mật bắt tay Ðại Úy Viên và hỏi: “Anh Viên và gia
đình mạnh khỏe? Anh có cần gì không? Ðại Úy Viên không đợi cho Tướng
Trưởng nói hết câu, ông trả lời: “Cám ơn Thiếu Tướng, tôi không cần gì
cả” thái độ của Ðại Úy Viên đã biểu lộ cái “dũng” của người lính rất tự
trọng và kỷ luật: Lệnh sao làm vậy, không cần nhờ vả ai.
Một vị tướng lãnh hiện đang định cư tại Hoa Kỳ từng là bạn thân cùng
binh chủng với Ðại Úy Nguyễn Văn Viên kể lại: “Sau 30/4/1975, khi CS đã
chiếm toàn bộ Nam Việt Nam, chúng (CS) kêu gọi sĩ quan và Tướng Lãnh
phải trình diện đi “học tập”. Ðại Úy Viên đến thăm tôi tại nhà riêng ở
Sài Gòn. Ông Viên hỏi tôi: “Anh có đi trình diện tụi nó không?” Tôi trả
lời: Ðâu còn cách nào khác hơn, tôi đang sửa soạn đây.” Ðại Úy Viên
khẳng định: “Tôi (NVV) không đi đâu cả, tôi sẽ tổ chức lực lượng “uýnh”
bỏ mẹ tụi CS này” Rồi Ðại Úy Viên tiếp: “Anh còn vũ khí không? Xin cho
tôi để giúp chúng tôi chiến đấu.” Tôi (vị tướng lãnh) nghe anh Viên nói
vậy bèn đi lục lọi trong nhà tìm được một số vũ khí như súng lục hãm
thanh, súng colt 45, súng các bin, tiểu liên và đạn dược rồi trao cho
Ðại Úy Viên. Ông Viên tháo rời từng khẩu cho dễ ngụy trang rồi gói riêng
thành từng gói cho vào túi vải. Ông Viên nhìn quanh phòng làm việc của
tôi thấy cái máy chữ nhỏ, Olivetli, ông liền hỏi xin luôn để dùng đánh
máy truyền đơn. Tôi chấp nhận ngay, tôi cho ông 2 cái túi vải để đựng
các món đồ tôi vừa tặng. Ông Viên cám ơn rồi kiếu từ chia tay. Chúng
tôi chia tay từ đó, tôi (vị tướng lãnh) thì vào tù CS còn ông Viên ở lại
quyết chiến đấu với kẻ thù để hy vọng một ngày giải thoát cho tôi.
Ông tiếp: “Sau 17 năm bị tù CS, trở lại sống tại Sài Gòn, tôi có được
nghe huyền thoại thật đẹp về Ðại Úy Nguyễn Văn Viên. Rằng sau 30/4/1975,
ông tổ chức một lực lượng võ trang hoạt động ngay trong khu vực Sài Gòn
- Chợ Lớn. Ông liên kết với các lực lượng tôn giáo và tạo được nhiều
thành quả như đặt chất nổ phá hoại, trải truyền đơn kêu gọi đồng bào
đứng lên chống lại bọn CS cầm quyền. Tổ chức của Ðại Úy Viên liên kết
với lực lượng của linh mục Nguyễn Văn Vàng thuộc Dòng Chúa Cứu Thế và
nhiều tổ chức khác đã gây được sự chú ý tại quốc nội và hải ngoại. Rất
tiếc sau đó bị nội tuyến nên khoảng cuối năm 1976 các vị lãnh tụ của tổ
chức là Ðại Úy Nguyễn Văn Viên, linh mục Nguyễn Văn Vàng và một số chiến
hữu trong tổ chức đã bị CSVN bắt.
Ðể tuyên truyền hù dọa dân chúng. CS cho tổ chức cái gọi là “phiên toà
khẩn cấp” để xử ông Viên và các vị lãnh tụ của tổ chức chống đối. Phiên
toà xử ông đã được CS loan truyền trên loa phóng thanh diễn tiến cuộc xử
án cho dân chúng nghe. Trong phiên toà, Ðại Úy Viên, Linh Mục Vàng và
các chiến sĩ tay bị còng, dáng điệu khinh mạn bọn CS đang ngồi xử án,
nét hiên ngang của các dũng sĩ đã làm cho người dân trong phòng xử đều
khâm phục còn truyền tụng đến ngày nay.
Phiên toà ngắn ngủi, được tổ chức hết sức máy móc, phi công lý, không
luật sư biện hộ, trên bục công tố là những tên “dép râu” mới từ bưng
biền về mặt hãy còn nám màu nước phèn, thái độ đằng đằng sát khí. Kết
quả của bản án đã được tụi CS soạn trước, chúng tuyên án: Ðại Úy Nguyễn
Văn Viên tử hình, linh mục Nguyễn Văn Vàng chung thân khổ sai v.v..
Nguồn tin một nhân chứng hiện còn sống tại Sài Gòn là một cụ bà người
Công Giáo năm nay đã gần 90 tuổi qua điện thoại cụ kể lại: “Ngày Việt
Cộng xử tử Ðại Úy Viên tại Vườn Ðiều Thủ Ðức (?)vào năm cuối 1976 (cụ
không nhớ ngày) nhiều dân chúng trong số đó có cụ đã tụ tập quanh “pháp
trường” để chiêm ngưỡng ông lần cuối. Trước khi bắn ông, chúng (cộng
sản) hỏi ông có muốn nói điều gì không? Ðại Úy Nguyễn Văn Viên dõng dạc
trả lời: “Tôi muốn nói với các anh, người Cộng Sản, có bắn tôi hôm nay
cũng không dập tắt được ngọn lửa đấu tranh của người dân trong nước, mai
này sẽ có hàng trăm, hàng ngàn Nguyễn Văn Viên khác nối gót. Nói xong
Ðại Úy Nguyễn Văn Viên quay về phía đồng bào đang dự kiến, ông nói thật
lớn: “Tôi xin chúc đồng bào ở lại mạnh giỏi.” Rồi, tuy hai tay ông bị
trói chặt về phía sau, nhưng Ðại Úy Nguyễn Văn Viên trong tư thế rất oai
nghiêm, đầu ông ngẩng cao, ngực ưỡn về phía trước như thách đố những tay
súng, một tên CS tay cầm miếng vải đen tính bịt mắt ông, ông hiên ngang
nói lớn: “Các anh không cần bịt mắt tôi, tôi sẵn sàng rồi, bắn đi.”
Một loạt đạn nổ liên tiếp xuất phát từ những bàn tay CS khát máu, đã kết
thúc mạng sống người con yêu của Miền Nam Việt Nam. Ðầu ông vẫn thẳng,
dựa vào cái cột gỗ, tấm áo trắng của ông nhuộm đầy máu, những dòng máu
đỏ từ ngực ông theo thân hình chảy dài xuống chân, thấm vào mạch đất tự
do, nơi ông sinh ra và cả đời hết lòng phụng sự!
Ôi cái chết của Nguyễn Văn Viên thật kiêu hùng kỳ diệu, còn vinh hiển
hơn cả người xưa. Hơn 100 năm trước, ngày 24 tháng 4 năm 1882, Tổng Ðốc
Hoàng Diệu cũng đã chọn cái chết bằng cách thắt cổ tự tử sau khi không
giữ nổi thành Hà Nội: Tổng Ðốc Hoàng Diệu, một trụ cột của triều đình
nhà Nguyễn, ngài nhận lệnh vua trấn thủ thành Hà Nội. Khi thành mất về
tay địch, ngài đã lựa cái chết để giữ trọn khí tiết của kẻ sĩ và một tôi
trung, sự tuấn liệt đó, đã được sử sách hết lời ca tụng! Ðó là truyện
đời xưa.
Truyện đời nay được truyền tụng rằng: “Vào cuối thế kỷ 20, trong cuộc
chiến tranh giữa thiện và ác, giữa chính và tà, giữa những người khát
vọng tự do và bọn CS độc tài khát máu, có một dũng sĩ cương quyết chống
lại chủ thuyết CS, chống lại bọn CSBV gian ác. Ông quy tụ những người
cùng chí hướng nổi lên chống lại chế độ cầm quyền, người đó là Nguyễn
Văn Viên.
Ðại Úy Nguyễn Văn Viên từng là công thần xây dựng Nền Ðệ Nhất Cộng Hoà
nhưng chẳng bao lâu, ông bị bỏ quên ngay, Quân Ðội ruồng bỏ, đường hoan
lộ của ông lang bang từ ông xuống thằng nhưng ông vẫn cắn răng chịu đựng
hết lòng thủy chung. Mười lăm (15) năm sau tưởng như giã từ vũ khí,
nhưng đầu năm 1972, khi tuổi đời đã “tà tà bóng ngả”, ông nhận được lệnh
tái ngũ, rồi được trao cho một chức vụ không hợp với khả năng.
Ông thản nhiên chấp nhận không phản đối. Ấy thế mà khi chính quyền Miền
Nam mất về tay CS, Quân Ðội không còn đủ khả năng bảo vệ người dân.
Trong lúc mọi người tuyệt vọng thì ông đứng lên. Trong lúc mọi người
đau khổ, thì ông sẵn sàng chia sẻ. Trong lúc mọi người mất tự do, thì
ông vùng lên tranh đấu. Ông tự cảm thấy cá nhân ông vẫn còn trách nhiệm
với Tổ Quốc Nam Việt Nam và đồng bào ruột thịt.
Nét hiên ngang của Nguyễn Văn Viên, là sau 30/4/1975, cũng như các đồng
đội khác để tự cứu sinh mạng, có thể tìm đường vượt thoát ra hải ngoại
hay vào tù CS, nhưng chiến sĩ Nguyễn Văn Viên đã chọn cho mình một hướng
đi mà con đường trước mặt đầy gian nan, nguy hiểm. Ông hy sinh hạnh phúc
riêng tư và hiến dâng sinh mạng của mình cho đại nghĩa. Gương tuấn liệt
của ông đã làm kẻ thù (CS) phải cúi đầu xấu hổ và thức tỉnh biết bao
trái tim yêu nước cho đến ngày hôm nay. Tôi thực hiện bài viết như lời
tiễn biệt người chiến sĩ tuẫn liệt cùng hy vọng từ tâm khảm thắp lên nén
hương cho Chiến Sĩ Nguyễn Văn Viên và biết bao chiến sĩ hữu danh, vô
danh khác để bày tỏ tấm lòng thương cảm, biết ơn vô vàn. Bây giờ là 4
giờ sáng, đêm ngày 27 tháng 2 năm 2009, ngoài trời vẫn còn tối, không
gian hoàn toàn im lặng và từ phía bên kia bờ đại dương thật xa đột nhiên
văng vẳng giọng ca cao vút của người nữ ca sĩ năm xưa, trong Bài Ca
Chính Huấn như rót vào tai tôi: “Người nằm xuống đây, cho ta đứng lên từ
quê hương này. Người nằm xuống đây, khi chưa viết xong trang sử đấu
tranh. Người đã ra đi theo vận nước”.
Nguồn: Internet E-mail chuyển
|