Bấm vào đây để in ra giấy (Print)
Vận Động Chính Trị Của Người Việt ở Mỹ và ảnh hưởng Đối Với Tranh Chấp Biển Đông (Tạp chí "Quan hệ quốc tế hiện đại", Trung Quốc, số 6/2011)
LỜI DẪN
- Mới đây, tập san Các vấn đề quốc tế ở Hà Nội, số ra tháng
10/2011, có cho dịch và đăng lại một bài nghiên cứu khá cặn kẽ của Trung
Cộng đăng trên tạp chí Quan hệ quốc tế hiện đại của Trung quốc, số ra
tháng 6/2011, viết về cộng đồng người Việt trên đất Mỹ và ảnh hưởng của
họ đối với chính sách của Mỹ về tranh chấp Biển Đông. Mặc dầu ngôn ngữ
bài viết có thể phản cảm đối với chúng ta (tỷ như cho người Việt ở Mỹ là
"chống lại tổ quốc," thậm chí lại còn mô tả là "phản quốc", nhưng có lẽ
chỉ với dụng ý là người Việt hải ngoại chống lại chế độ ở quê nhà, hoặc
gọi Việt Nam là "mẫu quốc" của chúng ta, lẽ ra chỉ nên gọi là "quê hương
đất tổ" mà thôi) nhưng nói chung, bài viết có thể xem được là khá khách
quan dựa trên những con số và những dữ kiện có thật, thuộc loại "nói có
sách, mách có chứng." Dù ta đồng ý hay không với những nhận định và kết
luận của bài viết, đây cũng là một bài viết có cơ sở và lạ thay, đánh
giá khá tích cực vai trò của người Mỹ gốc Việt trong cuộc vận động về
Biển Đông bên cạnh chính quyền Mỹ. Những đoạn in chữ nghiêng là do chúng
tôi nhấn mạnh để lưu ý độc giả.
(Người Biên Tập - NBT)
![]()
Sau khi kết thúc Chiến tranh
Lạnh, ảnh hưởng từ [các] nhóm lợi ích trong các quyết sách ngoại giao
của Mỹ ngày càng gia tăng, dẫn đến sự vận động chính trị của các nhóm
dân tộc ít người cũng tích cực hơn. Một trong những hậu quả là nhóm dân
tộc ít người vận động chính trị không chỉ gây ảnh hưởng đối với lợi ích
quốc gia trong thực tế hoặc trong tư tưởng của mẫu quốc (quê hương), mà
còn gây ảnh hưởng đến lợi ích của nước thứ ba, đến quan hệ giữa Mỹ, mẫu
quốc (quê hương họ) với nước thứ ba. Nói cách khác, nhóm vận động chính
trị của dân tộc ít người không những đang ngày càng vượt khỏi mối quan
hệ song phương giữa Mỹ và mẫu quốc mà còn gây ảnh hưởng quốc tế với phạm
vi rộng lớn hơn. Sự vận động chính trị [của]
người Mỹ gốc Việt là một
điển hình.
Những người này chủ yếu là "dân tị nạn", "thuyền nhân", và "dân di cư"
sau năm 1975. Nhóm người này mặc dù vẫn có tư tưởng chống Việt Nam,
nhưng không kiên quyết và triệt để như người Mỹ gốc Cuba. Họ không phản
đối bình thường hoá quan hệ Việt - Mỹ, không có ý đồ kìm hãm sự phát
triển kinh tế của Việt Nam. Tuy tâm lý phức tạp này đã hạn chế hiệu quả
tâm lý vận động chính trị của họ, nhưng họ lại có hành động nhất trí
tích cực trong vấn đề tranh chấp Nam Hải (Biển Đông), làm cho ảnh hưởng
của họ nâng cao rõ rệt: Người gốc Việt ở Mỹ có ý đồ tác động lên chính
sách Nam Hải của Mỹ và Việt Nam. Từ cuối thập niên 50 thế kỷ trước, họ
đã từng tác động ảnh hưởng đến chính sách của Mỹ và Việt Nam về vấn đề
Nam Hải. Những năm gần đây, việc làm của họ đã ảnh hưởng trực tiếp đến
quyết sách can dự toàn diện vào Nam Hải của Mỹ. Đồng thời, họ đã trở
thành tấm gương trong số dân di cư gốc Đông Nam Á khác tại Mỹ lên tiếng
về quyền lợi Nam Hải.
1. Đặc trưng dân số ảnh hưởng đến nhóm vận động chính trị người
Việt
Giống như các nhóm dân tộc ít người vận động chính trị khác, trước hết
là đặc điểm thành phần cơ cấu của nhóm vận động chính trị gốc Việt ở Mỹ
mang tính quyết định. Lịch sử của họ trên đất Mỹ không dài: Mặc dù trước
năm 1975, một số dân di cư người Việt đã đến Mỹ, nhưng số lượng rất ít,
chủ yếu là sinh viên và một số phụ nữ Việt lấy chồng Mỹ cùng một số quân
nhân Nam Việt Nam được Mỹ đào tạo. Sau khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc
năm 1975, rất nhiều người Việt đã di cư ồ ạt sang Mỹ. Trong hơn 30 năm
qua, số lượng người Việt ở Mỹ tăng nhanh, trở thành dân tộc có quy mô
lớn về dân số trong số người Mỹ gốc châu Á và có ảnh hưởng quan trọng
đến xã hội Mỹ. Theo số liệu năm 2006 của Cục Thống kê dân số Mỹ, nước Mỹ
có khoảng 1.5 triệu người Việt. Số lượng người Việt ở Mỹ chỉ đứng sau
người gốc Hoa, gốc Ấn Độ, và Philippine, đứng thứ tư trong số các dân
tộc châu Á ở Mỹ. Về tổng thể, quá trình di cư của người Việt tại Mỹ có
thể chia ra thành ba đợt. Đặc điểm của nhóm người Việt ở Mỹ có liên quan
đến vấn đề này.
Làn sóng dân di cư người Việt đầu tiên gọi là "dân tị nạn",
họ rời khỏi Việt Nam chủ yếu xuất phát từ
tâm lý "sợ hãi" (*)
bị hãm hại và trấn áp về chính trị sau khi đất nước thống nhất.
Nhóm người này đều đến Mỹ sau tháng 4/1975 khi Sài Gòn được giải phóng
và Việt Nam thống nhất đất nước. Họ đều có địa vị kinh tế xã hội khá
cao. Chỉ trong vòng 8 tháng (từ tháng 4-12/1975), số dân tị nạn người
Việt sang Mỹ lên tới hơn 129,000, rải khắp 5
[tiểu] bang của Mỹ. Trong
nhóm người này, nhiều người là quan chức cấp cao của chính phủ và quân
đội miền Nam Việt Nam. Nhiều người trong số họ có quan hệ hợp tác gắn bó
với người Mỹ như thư ký, phiên dịch, chuyên gia tình báo, nhân viên
truyền thông.... Theo một cuộc điều tra, 47.8% có trình độ tốt nghiệp
cấp 3, 22.9% học qua đại học, 7.2% là bác sĩ, 24% làm công tác chuyên
môn kỹ thuật và quản lý, chỉ có 4.9% là nông dân và ngư dân. Nếu xét ở
thời kỳ ấy, hơn 60% dân Việt Nam là nông dân thì có thể thấy số dân di
cư đợt này chủ yếu là tầng lớp tinh hoa.
Làn sóng di cư thứ hai được gọi là "thuyền nhân", trong đó phần lớn là
"Kiều dân" (Hoa kiều). Họ di cư cũng vì nguyên nhân chính trị. Sau khi
Việt Nam bắt đầu thực hiện bá quyền khu vực từ năm 1978, nhiều người bị
đối xử bất công đã tìm cách rời khỏi Việt Nam. Họ đi bằng thuyền hoặc đi
bộ nên được gọi là "thuyền nhân". Họ đi qua Campuchia rồi sang Thái Lan,
sau đó đến các trại tỵ nạn ở Mã Lai, Indonesia
[Nam Dương], Hồng Công,
Thái Lan, hoặc Philippine. Cuối cùng, họ được Mỹ, Canada, Australia, và
một số ít nước Tây Âu coi là "dân tị nạn" và có tư cách hợp pháp. Trong
khoảng thời gian từ năm 1976-1988, "thuyền nhân" Việt Nam sang Mỹ lên
tới gần 500,000 người. Điều cần phải chỉ rõ là nhiều "thuyền nhân" thực
tế là Hoa kiều nhập quốc tịch Việt Nam. Trong thời kỳ này, do quan hệ
giữa Việt Nam và Trung Quốc xấu đi, đặc biệt là sau chiến tranh biên
giới Trung - Việt năm 1979, chính phủ Việt Nam bắt đầu xua đuổi hàng
loạt Hoa kiều quốc tịch Việt Nam. Chính sách này
[được] liên tục thực
hiện trong vài năm, hàng trăm nghìn người Hoa đã bị đuổi khỏi Việt Nam.
Mặc dù nhiều người Hoa quay về Trung Quốc, nhưng có một bộ phận khá đông
phiêu bạt khắp thế giới, trong đó nước Mỹ là nơi họ đến đông nhất. Trong
thời kỳ này, 300 nghìn người Hoa đã đến Mỹ. Theo số liệu của Cục Thống
kê dân số Mỹ, tính đến năm 2000, số người này là 390,000 người.
Làn sóng dân di cư thứ ba là họ hàng thân thuộc của những người di cư
trong hai đợt trên hoặc con lai của quân nhân Mỹ tại Việt Nam. Họ đến Mỹ
từ cuối những năm 80 đến thập niên 90 của thế kỷ XX. Sau khi nhóm người
Việt trong hai đợt đến Mỹ và có được tư cách hợp pháp, họ đã đặt vấn đề
làm thế nào để đưa thân nhân của họ sang Mỹ thành chương trình nghị sự
của Chính phủ Mỹ. Để tránh những hiểm nguy to lớn trên đường mà những
người di cư trong hai đợt trên gặp phải, Mỹ và các nước khác đã xây dựng
chương trình cho phép họ rời Việt Nam đến trực tiếp Mỹ và các nước khác.
Ở Mỹ, đây là "Chương trình ra đi có trật tự" [tức ODP,
[viết] tắt cho
Orderly Departure Program. NBT ghi chú]. Tính đến năm 1998, chương trình
này đã tiếp nhận 362,000 dân di cư Việt Nam. Cũng vào thời gian đó, Mỹ
đã thực hiện hai chương trình được coi là khoản bồi thường cho "đồng
minh Nam Việt Nam" thời chiến tranh, đó là "chương trình nhân đạo"
["Humanitarian Program" hay còn gọi là H.O,
[viết] tắt cho "Humanitarian
Operation Program". NBT ghi chú] và "Chương trình người châu Á ở Mỹ"
["Amerasian Program". NBT ghi chú] còn được gọi là "Luật người Mỹ hồi
hương" ["Amerasian Homecoming Act". NBT ghi chú]. Quốc hội Mỹ đã thông
qua luật này vào năm 1988 và năm 1989 bắt đầu thực thi, trọng điểm được
quan tâm của luật này là giúp con cái binh lính Mỹ và thân nhân của họ ở
Việt Nam trở về Mỹ. Tính đến năm 2000, chương trình này đã tiếp đón
84,000 người. So với số người di cư trong hai đợt đầu, thành phần lần
này phức tạp hơn. Họ thường có hiểu biết nhiều về xã hội và có kinh
nghiệm đấu tranh, thường xuyên tổ chức ra các nhóm cánh hữu và tụ tập
người Việt Nam di cư sang Mỹ và sống rải rác khắp thế giới tham gia vào
"sự nghiệp chống cộng".
Do cao trào ba đợt di cư kể trên, người gốc Việt ở Mỹ có một số đặc điểm
về cơ cấu, đồng thời thực tiễn vận động chính trị của họ đã có ảnh hưởng
quan trọng. Trước hết, động cơ của dân di cư chủ yếu xuất phát từ tính
toán chính trị, do đó họ có lập trường chính trị khá bảo thủ, đa số ủng
hộ Đảng Cộng hoà Mỹ có lập trường chống cộng. Chẳng hạn, theo điều tra
lần đầu tiên vào năm 2000, 600 người Việt được hỏi ở Quận Cam coi nhiệm
vụ "chống cộng" là công việc "quan trọng hàng đầu" hoặc "vô cùng quan
trọng".
Thứ hai, giống như các dân tộc ít người khác ở Mỹ, người Việt cư trú khá
tập trung, đã nâng cao được tầm quan trọng của họ về chính trị. Mặc dù
ngay từ đầu, chính phủ Mỹ đã thực hiện chính sách phân tán người Việt,
nhưng chính sách này nhanh chóng bị phá sản do họ chủ động ở tập trung
với nhau. Ngay từ năm 1982, người Việt ngày càng tập trung nhiều ở Quận
Cam [thuộc tiểu] bang California, đặc biệt là khu vực Garden Grove, được
mệnh danh là "Tiểu [Little] Sài Gòn". Đây được coi là "thủ đô của người
Việt lưu vong". Hiện nay, người Việt chủ yếu sống tập trung ở một số nơi
như khu vực Galena, Texas, New York....
Cuối cùng, địa vị kinh tế xã hội của người Việt không cao. Điều này
không có lợi cho việc tăng cường hoạt vận động chính trị. Mặc dù địa vị
kinh tế xã hội của nhóm người di cư đợt đầu khá cao nhưng địa vị kinh tế
xã hội của hai nhóm người di cư đợt sau lại kém xa. Những người Việt Nam
mới đến Mỹ do những nguyên nhân như cơ sở kinh tế kém, trình độ ngôn ngữ
hạn chế nên phần lớn phải chọn công việc thu nhập không cao. Sau năm
1990, địa vị kinh tế của người gốc Việt nâng lên nhanh chóng. Chẳng hạn
như [tiểu] bang Massachusetts, đến năm 2007, bình quân thu nhập của một
gia đình gốc Việt là 57,000 USD/năm, bình quân thu nhập đầu người là
23,000 USD/năm, nhưng vẫn thấp hơn bình quân thu nhập của một gia đình
người gốc châu Á ở Mỹ là 69,000 USD/năm và 30,000 USD/năm một đầu người.
2. Thực tiễn vận động chính trị của người Việt ở Mỹ
Đặc điểm lập trường chính trị của người Việt khá bảo thủ và dân cư sống
tập trung với nhau nên họ có ảnh hưởng chính trị nhất định. Tuy nhiên,
địa vị kinh tế của họ lại không được cao đã hạn chế họ phát huy ảnh
hưởng chính trị ở mức độ nhất định. Đúng như một học giả đã nói: "Từ sự
tương phản rõ ràng trong quan hệ Mỹ - Cuba và quan hệ Mỹ - Việt, có thể
phát hiện sự khác biệt giữa người Mỹ gốc Cuba với người Mỹ gốc Việt. Đó
là sự tồn tại của "quy tắc đồng tiền"; "ai có tiền và cho tiền thì kẻ đó
có thể nắm giữ các quy tắc". Do đó, Mỹ có thể tiếp tục cứng rắn với
Cuba, nhưng lại cởi mở với Việt Nam. Vì vậy có thể thấy, việc vận động
chính trị của người [Mỹ] gốc Việt thể hiện trạng thái tâm lý "hai mặt",
giữa vận động tích cực và phản quốc(*)
một cách điển hình.
Do lịch sử di cư sang Mỹ như vậy nên việc vận động chính trị của người
gốc Việt chủ yếu bắt đầu từ sau năm 1975. Đương nhiên, trong hoảng thời
gian từ năm 1955-1975, chính quyền Việt Nam Cộng Hoà, đặc biệt là chính
quyền Ngô Đình Diệm đã xây dựng một lực lượng vận động chính trị lớn,
[1] tạo cơ sở để vận động chính trị về sau. Tuy nhiên, vào thời kỳ ấy,
vận động chính trị phần nhiều là để thúc đẩy mạnh mẽ sự nhiệt tình chống
cộng vốn có của người Mỹ. Vì vậy, vận động chính trị của người Việt chỉ
có thể chính thức được mở rộng khi có đông đảo người Việt Nam di cư sang
Mỹ sau năm 1975. Các cuộc vận động chính trị của người Việt tại Mỹ có
thể chia làm hai giai đoạn: trước và sau khi hai nước bình thường hoá
quan hệ (năm 1995).
Trước năm 1995, do ký ức Chiến tranh Lạnh còn nặng nề và quan hệ Việt -
Mỹ đối địch, vận động chính trị của người Việt ở Mỹ mang đặc điểm chống
lại Tổ quốc một cách mạnh mẽ. Đa số dân di cư Việt Nam trong thời kỳ này
mang tâm lý "chống cộng" quyết liệt, do đó dễ dàng tạo ra sự đồng thuận
chính trị mang tính bảo thủ. Tổ chức người gốc Việt ở Mỹ có nhiều nhóm
vận động chính trị, nổi tiếng nhất là "Đại hội toàn quốc người Mỹ gốc
Việt" [2] [đích thực là "Nghị hội Toàn quốc Người Việt tại Hoa kỳ,"
[viết] tắt là "Nghị hội". NBT ghi chú], "Hiệp hội giáo dục và phát triển
Campuchia - Lào - Việt Nam ở Mỹ" [Trong tiếng Anh là "National
Association for the Education and Advancement of Khmer, Lao, and
Vietnamese Americans," [viết]
tắt là NAFEA. NBT ghi chú], "Thuyền nhân
SOS" [tức "Boat People S.O.S., Inc". NBT ghi chú], "Hiệp hội gia đình
tội phạm chính trị" [đích thực là "Hội Gia đình Tù nhân Chính trị VN,"
trong tiếng Anh là "Families of Vietnamese Political Prisoners
Association," viết tắt là FVPPA. NBT ghi chú], "Uỷ ban hành động chính
trị của người Mỹ gốc Việt" [tức "Vietnamese Political Action Committee,"
[viết] tắt là VPAC. NBT ghi chú].... Trong giai đoạn này, thành công của
nhóm vận động chính trị thể hiện trên ba phương diện: Trước hết, họ ủng
hộ xây dựng Đài Châu Á Tự do. Bắt đầu từ năm 1985, người Việt đã ra sức
thúc đẩy xây dựng Đài Châu Á Tự do, các biện pháp vận động chính trị chủ
yếu là viết thư thỉnh nguyện và gặp mặt các đại biểu quốc hội. Trong quá
trình biểu quyết một quyết nghị có liên quan đến bình thường hoá quan hệ
Mỹ - Việt năm 1994, người [Mỹ] gốc Việt là dân tộc ít người duy nhất
trong số các dân tộc ở Châu Á ở Mỹ ủng hộ quyết định này. Thứ hai, họ
giành thắng lợi trong việc kiện Bộ Ngoại giao Mỹ. Tháng 3/1994, 250
người Việt đã gửi đơn kiện Bộ Ngoại giao Mỹ, ép Bộ này đánh giá lại
chính sách đối với dân di cư là thuyền nhân Việt Nam bị lưu giữ kéo dài
ở Hồng Công, không cho đẩy trở lại hoặc buộc họ viết lại đơn xin nhập
cư. Cuối cùng, thông qua vận động chính trị đối với các nghị sĩ quốc
hội, đặc biệt là bà Leslie Byrne, nghị sĩ
[tiểu] bang Virginia, người
[Mỹ] gốc Việt đã thành công trong việc thông qua nghị quyết ở quốc hội.
Từ đó, ngày 11/5/1994 trở thành "ngày nhân quyền Việt Nam".
Vận động hành lang chống lại Tổ quốc [Việt cộng] của họ trong giai đoạn
này còn thể hiện ở chỗ có sự tranh luận quyết liệt, thậm chí sát hại
nhau về việc Mỹ và Việt Nam có nên bình thường hoá quan hệ ngoại giao
hay không? Những người Mỹ gốc Việt đề xướng bình thường hoá quan hệ
ngoại giao hoặc thương mại Mỹ - Việt thường ở vào tình thế khó khăn.
Chẳng hạn, tháng 8/1989, nhà hoạt động phản chiến nổi tiếng Đoàn Văn
Toại đã bị bắn chết [3] do viết bài kêu gọi thiết lập quan hệ ngoại giao
giữa Việt Nam và Mỹ; ngày 28/5/1984, vợ chồng Nguyễn Văn Lũy à Phạm Thị
Lưu [ở San Francisco, CA. NBT ghi chú] là những người đề xuất mở rộng
quan hệ thương mại với Việt Nam đã bị bắn, ông Lũy chỉ bị thương còn bà
Lưu thì chết. Vào cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, nhân lúc nền kinh tế
Việt Nam bên bờ vực sụp đổ, nhiều người Việt ở Mỹ vẫn cho rằng không nên
cứu chính quyền Đảng Cộng sản ở Hà Nội, trừ phi họ từ bỏ chủ nghĩa cộng
sản.
Khi kết thúc Chiến tranh Lạnh và người Việt ngày càng hội nhập vào xã
hội Mỹ, việc vận động chính trị của người gốc Việt tại Mỹ cũng dần dần
chuyển hướng. Đến năm 1995 đã bước sang giai đoạn thứ hai khi Việt Nam
và Mỹ bình thường hoá quan hệ ngoại giao. Họ một mặt không phản đối quan
hệ Việt - Mỹ, đặc biệt là bình thường hoá quan hệ thương mại, mặt khác
vẫn đánh giá tiêu cực đối với thể chế chính trị, nhân quyền, dân chủ, và
tự do tôn giáo trong nước Việt Nam. Tâm lý phức tạp này dẫn đến họ ủng
hộ sự phát triển quan hệ Việt - Mỹ, ủng hộ sự phát triển trong nước của
Việt Nam, nhưng mặt khác lại đòi chính phủ Mỹ có biện pháp cứng rắn buộc
Việt Nam phải cải thiện tình hình chính trị, nhân quyền, tự do tôn
giáo....
Mặc dù tự nhận là "dân tị nạn", nhưng những người Mỹ gốc Việt vẫn có
tình cảm dân tộc mãnh liệt đối với quê hương. Nhiều người Việt mong muốn
có thể quay trở lại Việt Nam sau khi nước này thực hiện dân chủ. Ví dụ,
theo một điều tra dư luận người Mỹ gốc Việt ở Quận Cam, 62% người được
hỏi mong muốn quay lại Việt Nam sau khi nước này có tự do dân chủ. Xuất
phát từ tình cảm đối với quê hương, mặc dù vẫn thường nhấn mạnh tình
hình nội bộ chính trị ở Việt Nam, người Mỹ gốc Việt dần dần không còn
phản đối bình thường hoá quan hệ ngoại giao, cũng như sự phát triển quan
hệ thương mại giữa hai nước. Tuy nhiên, do các nguyên nhân như khả năng
kinh tế và ý thức tham gia chính trị, người Mỹ gốc Việt vẫn chưa ảnh
hưởng nhiều đến việc bình thường hoá quan hệ giữa hai nước. Họ tin rằng
xây dựng quan hệ ngoại giao có thể làm cho quan hệ kinh tế thương mại
giữa hai nước được tăng cường, nhưng nhất định phải buộc nhà cầm quyền
Việt Nam trả giá chính trị tương ứng, đó là phải cải thiện vấn đề nhân
quyền, tôn giáo, dân chủ ở Việt Nam. Chẳng hạn, Chủ tịch Hiệp hội tội
phạm chính trị Việt Nam [tên đích xác là "Hội Cựu tù nhân Chính trị VN".
NBT ghi chú] ở [tiểu] bang Connecticut cho rằng nền kinh tế kế hoạch hoá
nhất định phải cần đến giải pháp đồng bộ về dân chủ ở Việt Nam. Một ví
dụ khác đó là người Việt đầu tiên là Hạ nghị sĩ [Dân biểu. NBT ghi chú]
Mỹ Joseph Cao [Quang Ánh] đã thể hiện tâm lý phức tạp khi đến thăm Việt
Nam năm 2010. Ông tỏ ra vui mừng trước sự phát triển của Việt Nam, cho
rằng mặc dù Việt Nam và Mỹ có nhiều bất đồng, "nhưng không có nghĩa là
hai nước không thể hợp tác. Nhiều mong muốn của tôi không trùng hợp với
chính phủ Việt Nam, nhưng tôi vẫn hy vọng hai nước có thể tiếp tục hợp
tác".
Xuất phát từ sự quan tâm đối với quê hương, người Mỹ gốc Việt ủng hộ
mạnh mẽ sự phát triển kinh tế trong nước. Hiện tượng này thể hiện rõ rệt
nhất ở việc lượng kiều hối của Việt kiều tại Mỹ đều tập trung về Việt
Nam và trở thành kênh quan hệ để Việt Nam giao lưu với Mỹ. Năm 1990,
lượng kiều hối gửi về chỉ có 23 triệu USD, đến năm 1995 khi bình thường
hoá quan hệ Việt - Mỹ đã tăng lên 285 triệu USD, gấp 12.4 lần. Tiếp đó,
lượng kiều hối tiếp tục tăng nhanh chóng lên 5.5 tỷ USD vào năm 2007.
[4] Để thúc đẩy lợi ích thương mại của Việt Nam tại Mỹ, đã có người kiến
nghị Việt Nam nên tận dụng cơ chế vận động hành lang ở Mỹ, đặc biệt là
thông qua lực lượng người Việt ở nước này. Thượng nghị sĩ Jim Webb là
người chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các cuộc vận động chính trị của người
Việt, cho rằng: "Mặc dù Việt Nam và Mỹ có bất đồng trong các vấn đề như
nhân quyền, tôn giáo, tự do, nhưng Mỹ có hơn 2 triệu người Mỹ gốc Việt.
Họ có thể làm cầu nối rất tốt giữa hai nước".
Dù vậy, người Việt tại Mỹ vẫn giữ thái độ tiêu cực đối với chế độ chính
trị, nhân quyền, tự do tôn giáo ở Việt Nam. Họ thường yêu cầu chính phủ
Mỹ khi trao cho Việt Nam lợi ích về kinh tế phải kèm theo điều kiện
chính trị. Chẳng hạn, trước khi biểu quyết thông qua "Quy chế quan hệ
thương mại bình thường vĩnh viễn" (PNTR,
[viết] tắt cho Permanent Normal
Trade Relations. NBT ghi chú] cho Việt Nam vào tháng 7/2006, trên tờ USA
Today, hơn 50 tổ chức của người Việt ở Mỹ bao gồm "Đồng minh dân chủ
Việt Nam" [đích thực là "Liên minh Dân chủ VN". NBT ghi chú], "Uỷ ban tự
do tôn giáo Việt Nam", "Hội đồng nhân quyền Việt Nam" [có lẽ ý muốn nói
"Mạng Lưới Nhân Quyền VN". NBT ghi chú] đã công khai đăng bức thư gửi
Tổng thống Bush và Quốc hội Mỹ, yêu cầu phía Mỹ quan tâm đến vấn đề nhân
quyền, đưa ra những điều kiện tiên quyết cho PNTR, trong đó có thả tù
nhân phạm tội về tôn giáo và chính trị, chấm dứt giam lỏng [chế độ quản
chế. NBT ghi chú], cho phép và thừa nhận các hội độc lập, thực sự tự do
báo chí.... Phần cuối của bức thư này kêu gọi: "Nếu chưa làm được những
điều trên, đề nghị từ chối cấp PNTR cho chính quyền độc tài cộng sản
Việt Nam". Đầu xuân năm 2007, do chính phủ Việt Nam bắt giữ một số nhân
sĩ tôn giáo, do sự hối thúc của nhiều nhóm người Việt, Nhà Trắng và Bộ
Ngoại giao Mỹ đã công khai phê phán Chính phủ Việt Nam. Tổng thống
[George W.] Bush và Phó Tổng thống [Dick] Cheney đã tổ chức cuộc gặp 45
phút với các tổ chức nhân quyền của người Việt ở Mỹ vào tháng 5/2007.
[5] Hạ viện Mỹ đã thông qua nghị quyết lên án Việt Nam với tỷ lệ 404/404
phiếu thuận. Hạ nghị sĩ [Dân biểu] Earl Blumenauer thuộc Đảng Dân chủ,
Trưởng ban liên lạc quốc hội Mỹ - Việt, cũng tuyên bố từ chức để phản
đối việc làm của chính phủ Việt Nam. Trước khi Ngoại trưởng Hillary đến
thăm Việt Nam vào tháng 7/2010, các Hạ nghị sĩ [ Dân biểu] như Loretta
Sanchez, Barbara Boxer, Mel Martinez.... [đích thật hai vị sau này là
Thượng nghị sĩ. NBT ghi chú] đều yêu cầu Hillary nhắc nhở vấn đề nhân
quyền, tự do tôn giáo với chính phủ Việt Nam - trên thực tế Hillary đã
làm như vậy.
Người Việt ở Mỹ có tâm lý phức tạp đối với quê hương của họ. Điều này đã
dẫn đến tranh cãi trong nhiều vấn đề liên quan đến Việt Nam. Chẳng hạn,
tháng 12/1998, một tiểu thương người Việt ở Little Saigon,
[tiểu] bang
California [tên Trần Trường. NBT ghi chú] đã treo tấm ảnh Hồ Chí Minh cỡ
lớn và cờ đỏ sao vàng Việt Nam tại cửa hàng của mình, dẫn đến hoạt động
biểu tình quy mô lớn trong một thời gian dài. Cuộc biểu tình này kéo dài
4 tháng, lúc đông nhất có hơn 15,000 người tham gia, diễn ra 53 ngày tại
riêng cửa hàng của ông này, những người biểu tình yêu cầu ông chủ cửa
hàng hạ ảnh Hồ Chí Minh và quốc kỳ [VNCS. NBT ghi chú] xuống. Nhưng ông
ta nói đây là quyền tự do của ông và không chịu thực hiện. Ngoài ra, Tạp
chí "Thời đại" [tức tờ TIME. NBT ghi chú] đã đăng bài viết về Hồ Chí
Minh, coi cụ Hồ là chiến sĩ đấu tranh cho tự do, từng bị cầm tù. "Đảng
Dân chủ Việt Nam" ở Mỹ đã viết thư gửi tạp chí này để phản đối và đòi
sửa lại bài viết trên.
Mặc dù hiện nay còn khó đưa ra kết luận, nhưng cuộc bầu cử tổng thống Mỹ
năm 2008 [6] dường như đã hé lộ tín hiệu thay đổi trong sự vận động
chính trị của người Việt, bởi vì cơ cấu phiếu bầu của họ đã có dấu ấn
thay đổi. Mặc dù nhìn chung sự ủng hộ của người Việt đối với Đảng Cộng
hoà vẫn chưa thay đổi, nhưng đi sâu nghiên cứu sẽ phát hiện mạch ngầm
phía sau: Một mặt, người Việt là nhóm dân tộc gốc Châu Á duy nhất ủng hộ
John McCain, sự ủng hộ của họ đối với ông này cao gấp đôi so với Barack
Obama. Mặt khác, số phiếu ủng hộ của người Việt trẻ sinh ra ở Mỹ đối với
Obama lại lên tới 69%, số phiếu bầu của những người Việt tuổi từ 18-29
cũng lên tới 60%. Mặc dù hai nhóm người Việt này chỉ là thiểu số (chiếm
15% và 25%), nhưng họ lại là nhóm người chủ yếu trong tương lai. Ngoài
ra, tính chất đảng phái của người Việt cũng thay đổi: Người Việt trên 45
tuổi muốn tham gia tranh cử nhiều hơn, chủ yếu đăng ký là người của Đảng
Cộng hoà. Ngược lại, nhiều người Việt dưới 45 tuổi lại muốn đi theo Đảng
Dân chủ hoặc ứng cử viên độc lập, tỷ lệ tham gia tranh cử bằng một nửa
so với nhóm trên 45 tuổi.
3. Việc vận động chính trị của người Việt ở Mỹ với vấn đề tranh
chấp Nam Hải (Biển Đông)
Nhìn chung, do hạn chế bởi địa vị kinh tế và vai trò chính trị, ảnh
hưởng của sự vận động chính trị của người Việt ở Mỹ không lớn, đặc biệt
là so với người Mỹ gốc Do Thái hoặc gốc Cuba. Tuy nhiên, nếu xem xét từ
góc độ vấn đề Trung Quốc, quan hệ Trung - Mỹ, Trung - Việt, quan hệ
Trung Quốc với các nước Đông Nam Á, thì sự vận động chính trị của người
Mỹ gốc Việt khá quan trọng. Bởi vì, tuy họ còn thiếu tích cực và thiếu
khả năng mở rộng vận động chính trị trong các vấn đề liên quan đến Việt
Nam, nhưng họ lại là nhóm người vận động tích cực nhất trong các nhóm
người gốc châu Á ở Mỹ về vấn đề Nam Hải và tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải
giữa Trung Quốc với Việt Nam. Ảnh hưởng của họ càng nổi bật hơn khi Mỹ
can dự toàn diện vào tranh chấp Nam Hải năm 2010.
Người Việt ở Mỹ quan tâm đến vấn đề Nam Hải từ lâu. Ngày 19/4/1958 [Sai,
lẽ ra phải là ngày 14/9/1958. NBT ghi chú], Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn
Đồng đã gửi công hàm cho Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai công nhận Tây
Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) là của Trung Quốc. Ngay vào thời
điểm đó, những người Việt đang công tác tại Bộ Ngoại giao Mỹ đã nhanh
chóng công bố cho người Việt ở Mỹ bản photo "Báo Nhân dân" [đích xác
phải là "báo Nhân Dân". NBT ghi chú] của Việt Nam. Sự việc này ngay lập
tức đã gây ra sự phản đối quyết liệt của người Mỹ gốc Việt ở Mỹ, họ gọi
hành động này của chính phủ Việt Nam là "bán nước". Sau này, vấn đề
tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc và Việt Nam đã trở thành một vấn đề
quan trọng của người Việt ở Mỹ.
Mặc dù nội bộ người gốc Việt có nhiều bất đồng lớn về thái độ đối với
Việt Nam, nhưng [họ] đều nhất trí cao về việc "bảo vệ tài sản của tổ
tiên để lại", không dâng cho Trung Quốc. Đúng như có học giả đã chi rõ:
Về mặt bảo vệ "tài sản của tổ tiên", thái độ của người Việt ở nước ngoài
là mạnh mẽ nhất. Đa số họ là kẻ lưu vong trong thập niên 70 của thế kỷ
XX, có tâm lý chống đối quyết liệt chính phủ Việt Nam. Họ không có cảm
tình gì với lịch sử Trung Quốc giúp Việt Nam chiến thắng hai cuộc chiến
tranh chống Pháp và Mỹ, giành được độc lập cho đất nước, giải phóng dân
tộc. Họ vốn quen tiếp nhận quan niệm giá trị của phương Tây, luôn cao
giọng nhất trong vấn đề Tây Sa và Nam Sa, không những đòi chủ quyền đối
với hai quần đảo này, họ còn đòi chủ quyền toàn bộ Nam Hải.
Trong những năm 1991-1993 sau Chiến tranh Lạnh, trong tình hình Mỹ đi
đầu cấm vận đối với Trung Quốc, một số người Việt đã nhìn thấy cơ hội té
nước theo mưa về vấn đề Nam Hải, cố sức xây dựng "Tổng Hội người Việt
Nam ở nước ngoài" [đích xác là "Tổng liên hội Người Việt Tự Do,"đã họp ở
Canada và Washington, DC. NBT ghi chú]. Sau khi nỗ lực đó bị thất bại,
từ năm 1995-2000, họ đã bốn lần tổ chức hội nghị trừ bị [có lẽ tác giả
muốn nói đến 4 lần Hội nghị Liên kết họp ở Virginia, Quận Cam, Milpitas
Bắc Cali, và Washington, DC. NBT ghi chú], có ý đồ xây dựng một mặt trận
dân tộc bảo vệ "quần đảo Trường Sa". Để phối hợp với tâm lý dân tộc ngày
càng lên cao ở trong nước xung quanh vấn đề Trường Sa, họ đã lần lượt tổ
chức hai lần "Đại hội bảo vệ lãnh thổ" [đích xác là "Hội nghị Diên Hồng
hải ngoại bảo toàn lãnh thổ". NBT ghi chú] vào năm 2002 và 2005. Thậm
chí, họ đã tổ chức biểu tình bên ngoài Lãnh sự quán Trung Quốc ở
Houston. Đương nhiên, những tổ chức này cũng ủng hộ hành động ở trong
nước phản đối chính phủ Việt Nam "bán nước", dâng lãnh thổ, lãnh hải cho
Trung Quốc, đặc biệt là ủng hộ những hoạt động nhiều lần biểu tình trái
phép ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.inh.
Tổ chức người Việt ở Mỹ có ảnh hưởng lớn nhất đối với chính sách của Mỹ
về vấn đề Nam Hải là "Hiệp hội người Việt ở hải ngoại" (?). Tổ chức này
đã vận động chính trị thông qua đề xuất chính sách một cách rộng rãi,
cung cấp tiền cho các nghị sĩ tranh cử, gặp mặt các nghị sĩ và đã thu
được hiệu quả khá rõ rệt.... Ví dụ, tháng 11/2003, trong lúc diễn ra
chuyến thăm Mỹ của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Phạm Văn Trà, tổ
chức này đã gửi một kiến nghị cho Bộ Ngoại giao Mỹ,
[7] hoan nghênh sự
phát triển tích cực của quan hệ Việt - Mỹ. Tuy nhiên, họ cho rằng phải
quan tâm toàn diện: Về lý luận, tính chất của hai chính quyền vẫn khác
biệt về bản chất, Việt Nam vẫn là một quốc gia một đảng chuyên chế; hai
nước vẫn còn tồn tại bất đồng lớn trong các vấn đề như nhân quyền, tự do
tôn giáo, quyền chính trị của công dân.... Bản kiến nghị ấy cũng cho
rằng mục đích chuyến thăm của Phạm Văn Trà phần nhiều không phải là phát
triển quan hệ song phương mà là phối hợp kiềm chế Trung Quốc. Thượng
nghị sĩ Jim Webb, Chủ tịch Tiểu ban Đông Á và Thái Bình Dương thuộc Uỷ
ban Đối ngoại của Thượng viện Mỹ đã từng trải qua cuộc chiến tranh Việt
Nam cho rằng Việt Nam và Hoa Kỳ là bạn bè tự nhiên. Việt Nam có ý nghĩa
chiến lược đối với Mỹ, sự có mặt của Mỹ ở Việt Nam là vô cùng quan
trọng. Chính sách ngoại giao cân bằng nước lớn của Việt Nam hết sức quan
trọng đối với việc tăng cường quan hệ Việt - Mỹ, cũng hết sức quan trọng
đối với việc ổn định khu vực Đông Nam Á và Nam Hải. Tháng 7/2009, Jim
Webb đã chủ trì một cuộc điều trần về "Vấn đề chủ quyền và tranh chấp
trên biển ở Đông Á". Bài phát biểu của ông ta đã ảnh hưởng rõ rệt đến
những người Việt ở Mỹ. Khi đề cập đến vấn đề Trung Quốc bắt giữ các ngư
dân Việt Nam, ông nói: "Những tranh chấp này đã ảnh hưởng nghiêm trọng
đến các quốc gia khác trong khu vực, chỉ Mỹ mới có đủ khả năng và biện
pháp chống lại sự mất cân bằng sức mạnh do Trung Quốc gây ra. Nếu Mỹ
muốn duy trì sự cân bằng địa chính trị trong khu vực, bảo đảm sự công
bằng cho tất cả các quốc gia, bảo vệ tiếng nói của những quốc gia muốn
giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hoà bình, thì Mỹ phải có nghĩa vụ
thực hiện nhiệm vụ này". Sau một tháng, trong thời gian thăm Việt Nam,
Jim Webb một lần nữa nhấn mạnh Mỹ phải giúp Việt Nam đối trọng với Trung
Quốc".
Năm 2009 là năm người Việt ở Mỹ vận động chính trị tích cực nhất xung
quanh vấn đề Nam Hải. Điều này ảnh hưởng quan trọng đến chính sách của
Mỹ xung quanh vấn đề Nam Hải năm 2010. Tháng 4/2009, các tổ chức như
"Đại hội toàn quốc người Việt" [tức Nghị hội. NBT ghi chú], "Tiếng nói
người Mỹ gốc Việt" ["Voice of Vietnamese Americans" trong tiếng Anh.
NBT
ghi chú], đã gặp Jim Webb và bày tỏ quan điểm của họ đối với vấn đề chủ
quyền quần đảo Nam Sa [tức Trường Sa. NBT ghi chú], đồng thời yêu cầu
ông ta hãy lên tiếng thay cho Việt Nam. Tháng 7/2009, khi Đại sứ Mỹ ở
Việt Nam Michael Michalak về Mỹ công tác, những người thuộc các tổ chức
trên cũng đã đến gặp ông này. Khi đề cập đến vấn đề Nam Hải, ông nói:
"Mỹ không thể đứng về bên nào", mà sẽ theo đuổi một "phương pháp giải
quyết mang tính khu vực".ực".
Tháng 12/2009, "Đại hội toàn quốc người gốc Việt" [ Nghị hội] và một số
tổ chức của người Việt khác đã gặp 6 nghị sĩ Đảng Dân chủ trong quốc hội
(bao gồm Sam Brownback, Chris Smith, Ed Royce, Zoe Lofgren, Frank Wolf,
Mike Honda). [8] Mặc dù mục đích chính của cuộc gặp là thảo luận vấn đề
nhân quyền của Việt Nam, nhưng cũng thảo luận về vấn đề tranh chấp Nam
Hải. Tháng 6/2010, "Đại hội toàn quốc người Việt" [Nghị hội] một lần nữa
cử đại diện đến vận động chính trị ở quốc hội, gặp gỡ 6 nghị sĩ trên và
Uỷ ban đối ngoại của Thượng viện Mỹ. Sứ mệnh chủ yếu của cuộc gặp này là
để hoàn chỉnh "phương án giải quyết vấn đề Nam Hải". Nội dung chủ yếu
bao gồm: [1]
Thống nhất tên gọi quốc tế khu vực Nam Hải là "Biển Đông
Nam Á" [9] để thuận lợi hơn khi thảo luận vấn đề này;
[2] Tổ chức một
cuộc thảo luận giữa các học giả quốc tế và Việt Nam, thống nhất quan
điểm, lập trường và chính sách của Việt Nam trong vấn đề Biển Đông;
[3]Tổ chức hội nghị quốc tế bao gồm các đại diện của các nước có lợi ích
ở Biển Đông - trừ Trung Quốc, để cùng "ngăn chặn hành động bá quyền của
Trung Quốc" ở khu vực này; địa điểm tổ chức hội nghị có thể lựa chọn
Đông Nam Á hoặc Nhật Bản. Sau khi lắng nghe phương án này, hai thượng
nghị sĩ là thành viên chủ yếu của Uỷ ban đối ngoại Thượng viện Mỹ đã ủng
hộ nhiệt tình. Họ nói: "Các nước Đông Nam Á đều yêu cầu Mỹ đứng về phía
họ.... Tuy nhiên, điều này làm cho chúng ta không thể đứng về bên nào.
Có được một phương án toàn diện như các ngài nêu ra thì Mỹ mới có thể
sẵn sàng ủng hộ".
Do Việt Nam đảm nhiệm chức Chủ tịch luân phiên ASEAN năm 2010 nên vận
động chính trị của người Việt ở Mỹ xung quanh vấn đề Nam Hải lại càng
tích cực. Trong đó, tổ chức nổi bật hơn cả là "Hội Người Việt ở Bắc
California". Ngày 20/5/2010, trước khi Ngoại trưởng Hillary [Clinton]
đến thăm Việt Nam tham dự Diễn đàn khu vực Đông Nam Á [ARF, tắt cho
ASEAN Regional Forum. NBT ghi chú], tổ chức này đã kiến nghị Bộ Ngoại
giao và bà Hillary, mong muốn Mỹ giúp đỡ các ngư dân Việt Nam bị Trung
Quốc bắt, lên án hải quân Trung Quốc và quan tâm đến tình hình Nam Hải.
Sau khi Hillary lên tiếng can dự vào Nam Hải tháng 7/2010, tổ chức này
đã viết thư cho bà ta, trong thư có đoạn bày tỏ "cảm ơn chân thành và
sâu sắc nhất", đồng thời mong muốn Bộ Ngoại giao Mỹ tiếp tục quan tâm
đến vấn đề này.này.
Cuộc vận động chính trị của người Việt ở Mỹ trong vấn đề tranh chấp Nam
Hải đã mang lại hiệu quả rộng lớn. Điều này không những thể hiện trong
tuyên bố của bà Hillary rằng Nam Hải liên quan đến "lợi ích quốc gia",
đồng thời yêu cầu thông qua diễn đàn đa phương để giải quyết tranh chấp
ở khu vực này mà còn thể hiện trong việc họ đã động viên các nhóm dân
tộc khác ở Mỹ tác động lên Quốc hội Mỹ và các bên tranh chấp Nam Hải. Ví
dụ, Thượng nghị sĩ Jim Webb vốn luôn ủng hộ các yêu cầu của người Việt ở
Mỹ, một lần nữa lại đến thăm Việt Nam vào trung tuần tháng 4/2011. Trong
thời gian chuyến thăm, ông ta không những nói về tranh chấp Nam Hải mà
còn mở rộng nội dung sang vấn đề xây dựng đập thuỷ điện lớn trên sông Mê
Công. Một ví dụ khác là tính đến nay, nhiều người Mỹ gốc Indonesia
[Nam
Dương], Mã Lai, Philippine... đã ký tên đòi đổi tên gọi Nam Hải thành
"Biển Đông Nam Á" theo đề xuất của "Đại hội toàn quốc của người Việt ở
hải ngoại" [Nghị hội?. NBT ghi chú]. Do đó, có thể nhận thấy rất rõ ràng
mặc dù Mỹ có chính sách mang tính hệ thống, nhưng việc vận động chính
trị của người Việt xung quanh vấn đề Nam Hải có liên quan chặt chẽ đến
căng thẳng trong quan hệ Trung - Mỹ, Trung - Việt, Trung Quốc - ASEAN về
vấn đề Nam Hải.
Đương nhiên, cũng cần thấy rằng, trong số người Mỹ gốc Việt cũng có một
bộ phận nhỏ có vai trò tích cực trong việc hạn chế những nỗ lực vận động
hành lang của tổ chức như "Đại hội toàn quốc người ười [Mỹ] gốc Việt" [Nghị
hội. NBT ghi chú], đó là "Người Mỹ gốc Việt trung". Như đã phân tích ở
trên, nhiều người Việt ở Mỹ có gốc gác là người Hoa. Do đó, họ phải xác
lập sự đồng thuận phức tạp hơn so với những nhóm người chỉ có một tổ
quốc. Người Việt gốc Hoa đều có tình cảm với Việt Nam và Trung Quốc, do
đó, họ không muốn thấy quan hệ hai nước xấu đi, hoặc các nhân tố khác
làm mối quan hệ này xấu đi. Do đó, sự lựa chọn của họ thường là làm cầu
nối giữa người Việt với người Việt gốc Hoa, tìm cách lấy khuôn khổ rộng
lớn hơn là người Mỹ gốc châu Á để hoà giải và điều chỉnh hành động chính
trị giữa người [Mỹ][tiểu] bang California), Adam Schiff (Đảng Dân chủ,
[tiểu] bang
California) và một số dân biểu [thuộc tiểu] bang California như Mike
Eng, Trần [Thái] Văn, Nguyễn Phó (LS. Nguyễn Văn Phổ?).... Do nỗ lực của
những tổ chức trên của nhóm người Việt gốc Hoa, ảnh hưởng của người
[Mỹ]
gốc Việt ở Mỹ trong vấn đề tranh chấp Nam Hải cũng bị hạn chế nhất định.
4. Kết luận
Sự vận động mang đặc điểm chính trị trong nội bộ nước Mỹ đang ngày càng
được các tổ chức của những nhóm dân tộc ít người vận dụng thành thạo.
Tuy nhiên, điều đáng chú ý là ảnh hưởng của các cuộc vận động này thường
không chỉ hạn hẹp đối với quê hương của họ. Như đã phân tích trong bài
viết này, do đặc điểm của quá trình di dân, địa vị kinh tế, và quá trình
tham gia chính trị, người [Mỹ] gốc Việt ở Mỹ có đặc điểm vận động chính
trị chống lại tổ quốc trước khi hai nước bình thường hoá quan hệ vào năm
1995, nhưng diễn biến tình hình sau đó phức tạp hơn. Một mặt, họ không
phản đối, thậm chí là ủng hộ sự phát triển quan hệ thương mại giữa hai
nước, mặt khác lại có ý đồ gắn kèm theo một số điều kiện chính trị. Do
tâm lý phức tạp trên, ảnh hưởng của các cuộc vận động chính trị của
người [Mỹ] gốc Việt đến chính sách của Mỹ đối với Việt Nam bị hạn chế
nhiều.
Tuy vậy, không thể vì thực tế trên mà coi thường các cuộc vận động chính
trị của họ. Bởi vì, ảnh hưởng của họ rất quan trọng đối với tranh chấp
Nam Hải. Ngoài người Việt gốc Hoa, đa số người [Mỹ] gốc Việt đều nhất
trí phản đối Việt Nam "nhượng bộ" Trung Quốc. Ngoài ra, họ còn có ý đồ
vận động chính phủ Mỹ phát huy vai trò tích cực hơn trong tranh chấp Nam
Hải, có ý đồ đưa ra "phương án giải quyết toàn diện" vấn đề này. Ảnh
hưởng sâu rộng hơn, đáng quan tâm hơn là những nỗ lực của họ có thể động
viên dân di cư gốc Đông Nam Á đang sinh sống tại Mỹ hành động về quyền
lợi của quê hương họ ở Nam Hải, dẫn đến quốc tế hoá tranh chấp Nam Hải,
đồng thời tranh chấp Nam Hải trở thành công việc của nội bộ nước Mỹ./.
(Người Biên Tập
- NBT)
![]()
Chú thích:
[1] Tác giả bài báo đang muốn nói đến tổ chức "Americans Friends of
Vietnam" (AFV) là một tổ chức vận động hành lang dưới thời Đệ Nhất Cộng
Hoà, được tài trợ một phần bởi chính quyền Ngô Đình Diệm.
[2] Một đặc điểm của bài nghiên cứu này là không đưa được ra tên chính
thức của các tổ chức người Mỹ gốc Việt. Lý do gần như chắc chắn là tại
vì các tác giả của bài viết đã phải dịch từ các nguồn tin bằng tiếng Anh
nên họ đã không biết tên thật của các tổ chức của người Việt hải ngoại.
Vì vậy nên chúng tôi đã cố gắng cung cấp các tên chính thức này cho
người đọc có thể nhận diện được dễ dàng các tổ chức được nhắc đến trong
bài báo.
[3] Thông tin này không chính xác. Ông Đoàn Văn Toại chỉ bị bắn trọng
thương, sau đó đã phục hồi.
[4] Theo một nguồn tin chính thức thì tiền kiều hối gởi về trong nước đã
lên đến gần 10 tỷ đô la (9.6 tỷ) trong năm 2011. Tuy nhiên, phải biết là
chỉ khoảng hơn nửa số tiền này là do người Việt ở Mỹ gởi về, chỗ còn lại
có những nguồn như từ Âu châu, Úc châu, và nhất là từ Đông Âu và Liên
bang Nga.
[5] Trong cuộc gặp gỡ này, Tổng thống Bush và Phó tổng thống Dick Cheney
đã gặp các ông Lê Minh Nguyên (Mạng Lưới Nhân Quyền VN), ông Đỗ Hoàng
Điềm (Đảng Việt Tân), ông Đỗ Thành Công (Đảng Dân Chủ Nhân Dân) và BS.
Nguyễn Văn Ngãi (Đảng Dân Chủ VN). G.S. Đoàn Viết Hoạt (IIV, tức
International Institute for Vietnam) có được mời nhưng không tham dự.
[6] Đây là một bằng chứng bài viết do nhiều người phác thảo xong được
gom lại. Vì thế nên nếu đoạn cuối bài nói đến những sinh hoạt cập nhật
hơn thì đoạn này còn đang nói về cuộc chạy đua vào Toà Bạch Ốc năm 2008.
[7] Tưởng cũng nên nhắc là trước khi bà cho ông Phạm Văn Trà đến gặp, nữ
Dân biểu Nancy Pelosi, lúc bấy giờ là Chủ tịch Hạ viện Mỹ, đã có cuộc
gặp gỡ trước để trao đổi với một phái đoàn của người Mỹ gốc Việt gồm
Pháp sư Thích Giác Đức thuộc Văn phòng II, Giáo hội Phật giáo Việt nam
Thống nhất, ông Nguyễn Ngọc Bích đại diện cho Nghị hội, và ông Đỗ Hoàng
Điềm, chủ tịch đảng Việt Tân.
[8] Trong số những nhân vật này chỉ có một người là Thượng nghị sĩ, ông
Sam Brownback thuộc Đảng Cộng hoà, còn năm vị kia đều là Dân biểu, hai
người thuộc Đảng Dân chủ (Zoe Lofgren và Mike Honda) còn ba người thuộc
Đảng Cộng hoà (Chris Smith, Ed Royce, và Frank Wolf).
[9] Cuộc vận động đổi tên Biển Đông hay Nam hải thành một tên quốc tế là
"Biển Đông nam Á" (Southeast Asia Sea) chính thật là một sáng kiến của
Nguyễn Thái Học Foundation đã được đưa lên Petition on Line trên Mạng
Lưới Toàn Cầu. Tính đến nay, sáng kiến này đã thu hút được 54 nghìn chữ
ký đến từ trên 100 quốc gia trên thế giới, gồm rất nhiều người ký tên
gốc Đông nam Á. Nghị hội vì đồng ý với cuộc vận động này nên cũng đã
mang lên vận động trên Quốc hội Hoa kỳ và lấy được sự đồng tình của
không ít dân biểu nghị sĩ Mỹ trong vấn đề này.
![]()
(*)
Lời bàn:
Người dân Việt Tị Nạn Cộng sản không phải là người “phản
quốc”, trái lại họ là những người chống “Cộng sản”, hay Việt
cộng, họ là những người Quốc gia yêu nước thật sự vì họ là những con
người Việt chính thống, họ là những người chân chính, và họ là những
người dân của hai Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã được toàn thế giới công
nhận. Để chứng minh họ là những người con yêu quí của Tổ quốc VN, ta hãy
tưởng nhớ lại lịch sử trận đánh tại đảo Hoàng Sa vào năm 1974 khi mà
Quân đội miền nam nước Việt Nam Cộng Hòa dám đứng lên đuổi quân Tầu cộng
ngang ngược chiếm hải đảo HS của VN, thì cái gọi là Quân đội Nhân dân
thuộc miền bắc nước VN lúc bấy giờ đã không dám trợ tay, thậm chí cả một lời tâm
tình để ủng hộ tinh thần chiến đấu quật cường của anh em miền nam cũng
không có, ngược lại tên Thủ tướng VC Phạm Văn Đồng (Đồng vều) lại còn
lếu láo ký công hàm trao biển đảo cho địch quân Tàu cộng! Như vậy thì mọi
người đều đã rất tỏ tường rồi chứ còn thắc mắc làm gì nữa kia:
Ai là kẻ
“Phản quốc” đây? Chính là nó! Là tên VC bán nước cầu vinh đấy!
Họ(Người dân Việt Tị Nạn Cộng sản )
rời bỏ nước Việt Nam không phải vì tâm lý "sợ hãi" bị hãm hại… mà
là một kinh nghiệm xương máu có thật, kinh nghiệm này thật sự đã xảy ra
trên đất bắc nước VN ta, cha ông họ đã bị đấu tố đến chết ở miền bắc
nước VN khi tên Quốc tặc Hồ Chí Minh cướp chính quyền và áp đặt chủ
nghĩa Cộng sản trên toàn đất bắc. Một trong những chính sách tàn ác nhất
mà HCM đem về VN để áp dụng đó là chương trình
Cải Cách Ruộng Đất
(*) do Mao
Trạch Đông của Trung cộng phát động tại Trung hoa lục địa.
Chính sách
CCRĐ đã sát hại rất nhiều đồng bào vô tội của cả hai nước Việt-Trung, gây
nên bao đau thương cho triệu triệu sinh linh, nhất là những người dân
hiền lành VN lúc bấy giờ. Chưa hết, tết Mậu thân 1968 HCM đã nhẫn tâm
xua quân vào nam giết hại hằng ngàn hằng vạn đồng bào miền nam vô tội
trong lúc họ đang cử hành ngày Tết Nguyên đán linh thiêng của dân tộc.
Những tên VC khát máu đã không ngừng tại đó mà chúng còn tiếp tục gieo
tang thương chết chóc cho đồng bào miền nam vào mùa hè đỏ lửa 1972. Và
sau khi chiếm được miền nam ngày 30 tháng Tư, năm 1975, thay vì bắt tay
hòa hiệp với người anh em ngã ngựa, bọn VC gian ác lại bắt bỏ tù quân
cán chính miền nam, đày đọa họ đến chết trong các trại lao tù khủng
khiếp nhất thế giới, đẩy người dân miền nam lên các vùng rừng núi hoang
vu nước độc gọi là Vùng Kinh Tế Mới, phát động các chính sách đổi tiền
để bần cùng hóa nước VN ta, cướp sạch sẽ tài sản của miền nam đem ra
miền bắc xài, v.v.. Tội ác của HCM và VC cao hơn núi Thái sơn, và nhiều
quá, kể mãi không hết!
Bấm vào đây để xem thêm…. Cả thế
giới đã kinh tởm và khinh khi VC và bọn CS Quốc tế! Người ta sợ VC quá
đến nỗi trong dân gian VN đã có câu: nếu cây cột đèn biết đi nó cũng
phải chạy trốn khỏi thiên đường VC thôi!
Nói tóm lại: người VN sợ và kinh tởm bọn VC là có thật 100%, không phải
là lý do “tâm lý” như tác giả bài trên đã mô tả về “lý do người Việt
phải rời bỏ quê hương mình…”.
BKT
![]()
(*) Xem phim "Chúng tôi Muốn sống"
Nguồn: Internet E-mail by
Nguyễn Quang Duy chuyển
Bấm vào đây để in ra giấy (Print)
Đăng ngày Thứ Sáu, January 20th, 2012
Ban Kỹ Thuật Khóa 10A-72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH