Bấm vào đây để in ra giấy (Print)
Thư ngỏ gửi Ðại Tướng Stanley
McChrystal
Nguyễn Ðạt Thịnh
Kính gửi
Ðại Tướng Stanley McChrystal
Tư lệnh chiến trường A Phú Hãn
Thưa Ðại Tướng,
Là một cựu quân nhân quân lực VNCH, với 23 năm chiến đấu trong cuộc
chiến tranh tự vệ của đất nước chúng tôi, bị tấn công dưới hình thức
chiến tranh nổi dậy, tôi tự thấy có bổn phận phải viết thư trình bầy với
ông về hai đặc điểm của loại chiến tranh này, và nhắc ông một điều ông
cần quan tâm.
Ðặc điểm thứ nhất của loại chiến tranh counterinsurgency là giao thông
chiến, loại giao tranh đang xẩy ra mỗi ngày giữa quân đội Hoa Kỳ và
những quả mìn gài trên đường. Quả mìn rẻ tiền, dễ làm, nhiều khi không
cần đến một người sử dụng, nhưng trong 8 năm nay đã giết 354 quân nhân
Hoa Kỳ trong tổng số 592 người tử trận. Con số này không chính xác đến
mức từng tử sĩ, nhưng cũng rất gần với thật tế. Nói cách khác, trên 60%
tử sĩ chết ngay trong tiếng nổ của quả mìn, không được giao tranh với
địch quân và cũng không có cơ hội tự vệ. Không vị tướng lãnh nào có thể
nói là mình chủ động trong giao thông chiến. Hoàn toàn bị động, người
lính chỉ biết giao tranh xẩy ra sau khi nghe tiếng mìn nổ; trong đa số
những trường hợp xe trúng mìn, tiếng nổ gây tổn thất cho chúng ta tức
khắc, mặc dù loại xe MRAP (Mine-Resistant Ambush-Protected Vehicles) có
bảo vệ nguời lính ngồi trong xe.

Một chiếc xe MRAP “nuốt mìn, vượt phục kích” của TQLC
bị mìn loại ra ngoài vòng chiến
Một nguời lính nói với phóng viên truyền thông là “Chúng ta chế ra loại xe đáy dầy hơn, thì tụi nó sẽ chế ra quả mìn lớn hơn,” câu nói nôm na không mang tính kỹ thuật, nhưng không hẳn không đúng, và thiết giáp cũng không phải là chiến cụ hữu dụng lắm trong chiến tranh chống nổi dậy. Mặc dù kỵ binh không giải quyết chiến tranh nổi dậy, nhưng thiết giáp và loại xe MRAP vẫn hữu dụng trong hai công tác hộ tống công voa và mở đường, nhưng mở đường lại là việc không nên làm. Chỉ cần nhìn tấm hình dưới đây, mọi người đều biết công tác mở đường không mang lại một ích lợi thiết thực nào cả.

Một cuộc hành quân mở đường
Quân nổi dậy có thể phục cách mặt đường 500 thước mà vẫn không bị phát
hiện, và nửa tiếng đồng hồ sau khi cánh quân mở đường đi qua, địch quân
lại có thể gài hàng chục quả mìn đón đoàn công voa sắp đến, ấy là chưa
nói, trước khi hành quân mở đường khai diễn chúng đã gài mìn chào đón
những chiếc thiết giáp mở đường.
Có thể né tránh công tác mở đường bằng những hoạt động khác, sẽ được đề
cập trong đoạn sau, nhưng không thể né tránh việc sử dụng mặt đường để
tiếp tế; công voa tiếp vận là hình thức lệ thuộc vào trục đường, nhưng
nhu cầu tiếp tế vẫn tiếp tục làm quân đội Hoa Kỳ không rời bỏ được trục
đường đầy cạm bẫy nguy hiểm. Tại Iraq, Hoa Kỳ đã mướn tài xế dân sự
người địa phương lái xe vận tải tiếp vận cho quân đội, và mướn những nhà
thầu dân sự cung cấp nhân viên võ trang bảo vệ công voa. Ðó không phải
là giải pháp tuyệt hảo, nhưng vẫn là giải pháp giúp giảm thiểu tổn thất
nhân mạng trong quân đội.
Ðặc điểm thứ nhì của chiến tranh counterinsurgency là nhu cầu bảo vệ dân
chúng; đặc điểm này phức tạp hơn việc tránh quả mìn để tránh tổn thất.
Mục đích quân sự của công tác bảo vệ dân chúng là ngăn cấm không cho
địch quân cướp tài nguyên của dân để nuôi dưỡng chiến tranh.
Tại đồng bằng Việt Nam mà công tác bảo vệ quần chúng để đoạn lương Việt
Cộng còn hữu hiệu đến mức khiến chúng điêu đứng, thì tại chiến trường A
Phú Hãn rừng núi, việc bị đoạn lương có thể làm tê liệt hoạt động của
quân Taliban.
Ðiều đầu tiên trong công tác bảo vệ dân chúng là không được lầm lẫn giữa
bảo vệ dân chúng với bảo vệ làng thôn; tránh được lầm lẫn này là hủy bỏ
được toàn bộ hệ thống phòng thủ phức tạp, gồm làng mạc, đồn bót, pháo
binh, không quân yểm trợ, và bộ binh cứu viện; hệ thống phòng thủ này
không những vô hiệu quả mà còn buộc chân toàn bộ 1 triệu quân trong quân
lực VNCH vào gánh nặng phòng thủ diện địa. Nếu lực lượng quân sự lớn lao
đó được vận dụng để chỉ truy kích, đuổi đánh Việt Cộng thôi thì chiến
tranh đã ngã ngũ thắng lợi trong vòng một vài năm chứ không lây nhây kéo
dài để kết thúc trong chiến bại. Loại bỏ việc phòng thủ làng thôn trước
nhất là loại bỏ cái hàng rào làm quanh làng, loại bỏ quan niệm tử thủ
giữ làng, vì không một lực lượng nào đủ mạnh để bảo vệ một chiến lũy dài
4 cây số, trong giả thuyết một cái làng hình vuông, mỗi bề 1 cây số.
Chiến lũy bao quanh làng lại không có hiệu năng bảo vệ người dân sống
trong làng. Ðại tá Phan Văn Huấn chỉ huy trưởng Liên Ðoàn 81 Biệt Cách
Nhảy Dù viết, “Ấp Chiến Lược tiêu biểu nhất ngày đó là ACL Lương Sơn,
phía Bắc tỉnh Bình Thuận. ACL này có một vòng đai phòng thủ khá vững
chắc, với một ông trưởng ấp chống cộng quyết liệt, nhưng cuối cùng cũng
bị Việt Cộng kiểm soát sau khi ông trưởng ấp bị một tên nội gián ám sát.
Dân chúng vẫn phải đóng thuế cho Việt Cộng, dân vệ thì ban ngày mới đi
tuần tiễu quanh ấp, nhưng đêm đến rút vào đồn phòng thủ, chứ không dám ở
trong ấp với dân.”
Tuy nhiên trên bình diện chiến lược, ACL vẫn hoàn thành được vai trò cắt
tiếp vận của nó. Ðiểm sơ hở của ACL nằm trên bình diện chiến thuật: nó
tạo ra quá nhiều mục tiêu cho địch tấn công, những cuộc tấn công mà lực
lượng trong ấp phải thụ động chống trả, và những lực lượng hoả lực phải
yểm trợ, lực lượng bộ binh phải tiếp viện. Chỉ riêng hoả lực yểm trợ tại
A Phú Hãn cũng đã gây ra rất nhiều dư luận chống đối vì bom và đạn đại
bác gây tổn thất cho thường dân. Cách phòng thủ hữu hiệu hơn là tạo một
lực lượng dân quân khoảng 30 người cho mỗi thôn ấp có 1,000 nông dân: 3
người dân võ trang bảo vệ 100 người dân được tổ chức thành đội ngũ để tự
vệ.
Ðại tá Trần Dzoãn Thường, chỉ huy trưởng Lực Lượng Ðặc Biệt C4 tại Vùng
4 Chiến Thuật, viết, “…nhiệm vụ Quân Đoàn 4 giao cho tôi là ngăn chặn
Việt Cộng xâm nhập từ Kampuchia, vì thế đã có nhiều trại LLĐB dọc theo
biên giới do những thành phần Dân Sự Chiến Đâu (Civil Irregular Defense
Group) do dân địa phương gia nhập, được huấn luyện quân sự khá vững để
có thể phục kích trên những trục lô giao thông thủy bộ. Quân số ở mỗi
trại có thể ở cấp đại đội và thường do Toán-A LLĐB đảm trách Những trại
dọc biên giới này phải thường xuyên phục kích ban đêm, hành quân lục
soát ban ngày trong khu vực giao phó”.
“Nguyên tắc là Không bao giờ để CS chủ động, tự tung, tự tác đánh phá.
Phải để chúng luôn luôn ỏ thế thụ động mà phe Ta là Chủ động, do đó Dân
Sự Chiến Đấu hoàn toàn là dân địa phương, họ hoạt động cho sự an ninh,
vì sự an ninh của quê hương, bản quán nên rất tích cực, không ngại khó,
không sợ khổ.”
Nguyên tắc “sử dụng người địa phương bảo vệ người địa phương cũng đã
được trung úy Nguyễn Mâu, ngày còn là quận trưởng Thới Bình áp dụng rất
hiệu quả. “Thanh niên, thanh nữ Cộng Hòa”, một hình thức nhân dân tự vệ
ngày đó, tự đảm nhận việc bảo vệ dân làng, Nghĩa Quân đóng vai trò tổ
chức và chỉ huy các đơn vị nhân dân tự vệ, và Ðịa Phương Quân trở thành
lực lượng chủ lực cấp quận.
Tác dụng của việc “tự vệ mà không nằm trong vòng đai ACL” là đặt lực
lượng nhân dân tự vệ trực tiếp đối diện với địch, đối diện bằng mưu trí,
bằng tình báo, và dĩ nhiên bằng vũ khí. Nếu ông ấp trưởng của ấp Lương
Sơn không ỷ lại vào vòng đai ACL thì ông đã cảnh giác đề phòng nguy cơ
bị nội gián ám sát.
Ðại tá Huấn viết, “Về chiến thuật, lực lượng địa phương phải “năng động
hành quân đêm” (NÐHQÐ) mới có thế dành phần chủ động chin trường được.
Phục kích đêm chưa đủ để có thể gọi là NÐHQÐ, vì địch thường bám sát các
vị trí đóng quân của ta, những toán quân đi phục kích đêm dễ dàng bị lộ
vị trí phục kích ban đầu; do đó phải di chuyển đến những vị trí phục
kích khác, hay tốt hơn nữa là tập hành quân đêm để tìm đánh địch. “Chỉ
có lực lượng địa phương mới NÐHQÐ được; lực luợng đồng minh không làm
được việc này. Chiến trường A Phú Hãn mà không tổ chức được lực lượng
địa phương có khả năng NÐHQÐ thì về lâu, về dài, quân Taliban sẽ nắm thế
chủ động và làm cho quân đồng minh phải tháo chạy.”
“Ngoài 3 việc phục kích đêm, di chuyển địa điểm phục kích, và hành quân
đêm, còn có một việc quan trọng nữa là “ém quân”, tức là dấu quân vào
những vùng xôi đậu, để địch hoang mang không biết ta ở đâu. “Ban ngày,
lực lượng được ém tìm vị trí kín đáo để nghỉ ngơi, ngủ và ăn uống bồi
dưỡng, đêm đến mới đi hành quân tìm địch, nếu địch đông thì gọi pháo
binh hay phi cơ tiêu diệt, nếu ít thì tấn công, bắt tù binh để khai thác
tin tình báo.”
Ðại tá Huấn kể lại những cuộc NÐHQÐ của Biệt Cách Dù: “Năm Mậu Thân 1968
khi địch đột nhập chiếm vùng Ngã Ba Cây Quéo và Ngã Ba Cây Thị trong Gia
Ðịnh, chỉ cách tòa tỉnh trưởng 1 cây số. Mặt Cây Quéo do Nhẩy Dù, và mặt
Cây Thị do TQLC giao tranh với địch. Sau hơn một tuần mà chiến trường
vẫn chưa giải quyết được. Bộ Tổng Tham Mưu trao cho tôi trách nhiệm này,
và chỉ một đêm tôi thanh toán xong mặt Cây Quéo. Hai hôm sau Biệt Cách
Dù được điều động qua mặt trận Cây Thị; mặt trận này khá nặng vì lực
lượng địch bị đánh bật ra khỏi Cây Quéo rút về bổ xung cho Cây Thị. “Tôi
lại áp dụng chiến thuật NÐHQÐ nên chỉ mất có 2 đêm là chiếm được Cây
Thị. Tàn quân địch tháo chạy và bị TQLC mai phục vòng ngoài bắt sống
trên 100 tên.”
Thưa Ðại Tướng,
Những tên Taliban tối tối ra mặt đường gài mìn, hiện đang sống ẩn núp
trong các làng thôn A Phú Hãn; chúng sẽ bị trục xuất ra khỏi những ngôi
làng này sau khi làng được tổ chức tự vệ. Mặt khác việc sử dụng quân lực
A Phú Hãn với chiến thuật NÐHQÐ cũng sẽ tạo an ninh trên các trục đường,
cải thiện cuộc giao thông chiến.
Ðại tướng hiện đang có từ 2,000 đến 4,000 huấn luyện viên Hoa Kỳ để huấn
luyện quân sự cho quân đội A Phú Hãn. Việc huấn luyện này là công tác
đầu tiên và căn bản để đào tạo ra lực lượng thay thế 100,000 quân Hoa Kỳ
và đồng minh đang vật lộn với một chiến trường rừng núi, và đang đối phó
với chiến lược insurgency của Taliban.
Câu hỏi tôi xin đại tướng tự nêu ra là những huấn luyện viên Hoa Kỳ sẽ
dạy những gì cho quân A Phú Hãn. Giải đáp được câu hỏi này là nắm được
một nửa bí quyết thành công, bí quyết chúng tôi học được bằng cái giá
máu, và cái khổ nhục thất trận, mất nước.
Sau hai đặc điểm về chiến tranh counterinsurgency, tôi xin cảnh bảo với
đại tướng là ông không chỉ đối đầu với quân Taliban trước mặt, mà còn
phải đối đầu với mặt trận dư luận phía sau lưng (mặt trận chính trị).
Năm 1968 quân Việt-Mỹ thắng lớn trên khắp 300 địa điểm bị đột kích,
nhưng đại tướng William Westmoreland đã bị đánh gục trên mặt trận dư
luận. Mặt trận Washington thất bại nặng nề đến mức chính vị tổng tư lệnh
quân đội Hoa Kỳ lúc đó, tổng thống Lyndon B. Johnson, cũng phải bỏ cuộc,
không tái ứng cử nhiệm kỳ thứ nhì.
Vai trò của đại tướng rất khó, chúng tôi cầu nguyện ông thành công, và
cầu nguyện cho số tử sĩ Hoa Kỳ mỗi ngày một ít hơn; chúng tôi thương yêu
những chiến binh Hoa Kỳ đang tác chiến tại A Phú Hãn, vì họ là con, là
cháu của hơn 58,000 chiến binh Hoa Kỳ đã tử trận trong lúc giúp chúng
tôi bảo vệ quê hương chúng tôi.
Nguyễn Ðạt Thịnh
Bấm vào đây để in ra giấy (Print)