Bấm vào đây để in ra giấy (Print)
VIỆT CỘNG
VẪN CÒN GIAM GIỮ
CHIẾN SĨ VIỆT NAM CỘNG HÒA
Nguyễn Ðạt Thịnh
August 5, 2010
Em ruột tôi, trung tá Nguyễn Ðạt Phong, bạn tôi, thiếu tướng Lê Minh
Ðảo, và khoảng 20 tù nhân khác nữa, bị Việt Cộng giam giữ, hành hạ 17
năm dài sau khi chúng thắng trận. Tôi nghĩ những người đó là những tù
nhân chiến tranh cuối cùng, nhưng tôi lầm.
Phóng viên Thanh Quang của hãng RFA, vừa khám phá thêm 2 tù nhân chiến
tranh khác, một trong hai người vừa được Việt Cộng trả tự do sau 35 năm
giam cầm.
Người thứ nhất là anh
Nguyễn Hữu Cầu, một đại úy Ðịa Phương Quân; anh
Cầu bị Việt Cộng lên án tử hình, sau đó giảm xuống còn chung thân khổ
sai. Anh bị Việt Cộng giam giữ tại khu tù chính trị biệt giam, phân trại
K2, Z30A, Xuân Lộc, Đồng Nai. Nếu tính cả 6 năm học tập cải tạo, cho tới
giờ anh đã chịu đựng 33 năm tù đày.
Năm khổ nhục 1975, anh bị bắt, bị giam, rồi được trả tự do sau 2 năm;
nhưng tinh thần bất khuất, anh viết báo, viết nhạc nói lên cảnh nhiễu
nhương của Việt Cộng, do đó anh bị bắt trở lại.
Anh Nguyễn Anh-Hào, một người bạn tù của anh Cầu vừa được trả tự do nói,
“Người ta bị cùm 14 ngày và bị biệt giam 3 tháng là xong. Anh Cầu bị
biệt giam 3 năm liền. Họ biệt giam như vậy nhằm sử dụng bệnh tật để giết
chết người tù già.”
Anh Anh-Hào nói, “Anh Nguyễn hữu Cầu ở tù chung với tôi, nhưng trường
hợp của anh quá đặc biệt. Do đó bằng mọi cách phải giúp cứu vãn để anh
được trở về. Nếu không có bên ngoài can thiệp giúp đỡ, thì chắc có lẽ
anh Cầu sẽ ở tù “mút chỉ”.
Một cựu tù chính trị khác, anh Nguyễn Ngọc Quang lo ngại, “Anh Cầu bị
biệt giam không như những người khác. Anh Cầu bị biệt giam miên viễn,
một cách hành xử hết sức dã man. Ngoài ra họ dẫn anh tới giam tại một
phòng giam gần máy sấy điều, cho nên khói điều làm mù mắt anh. Nhưng
những hành động đó vẫn không khuất phục được ý chí của anh.”
Phóng viên Thanh Quang của hãng RFA tìm liên lạc với cô Nguyễn Thị
Anh Thư, con gái anh Cầu.
Cô Anh Thư cho anh biết, “lần chót cháu vào thăm ba cháu cũng mới
đây, ngày 6 tháng Sáu vừa rồi. Mắt ba cháu, hồi năm 2008 ra trị bệnh thì
2 mắt bị mù. Nhưng họ cho trị có một con mắt thôi. Họ nói để qua Tết sẽ
cho trị nữa. Sau khi vô tù trở lại thì từ năm 2008 tới giờ họ đâu có cho
ra nữa. Như vậy là một con mắt ba được sáng, còn mắt kia bị mù rồi.”
Thanh Quang: Sức khỏe ba cháu bị nguy kịch trong tù như vậy thì
có những ai, những tổ chức từ thiện nào từ bên ngoài thỉnh thoảng trợ
giúp gì không?
Anh Thư: Dạ không, không có một ai giúp hết. Nhưng từ
khi chú Nguyễn Bắc Truyển ở tù chung với ba cháu được trở về, ngày 17
tháng 5, chú mới hướng dẫn cho cháu làm đơn, thì ngày 20 tới ngày 25,
bên Úc có gởi tiền về cho ba cháu. Mấy hôm rày thì cũng có lai rai nhiều
người gởi tiền qua cháu, nhưng cũng ít thôi. Kể từ 17 tháng 5, nhờ chú
Truyển ở tù chung phòng với ba cháu ra, thì mới bắt đầu làm đơn kêu gọi
người này người kia. Chứ hồi nào tới giờ, cháu có làm đơn kêu gọi trong
nước thôi nhưng chẳng có ai nói gì hết. Nghe xong rồi họ bỏ qua hết.”
Thanh Quang: Nói chung những gì từ trong tù nhắn gởi về gia
đình, ba cháu tâm sự như thế nào?
Anh Thư: Dạ nói chung là khi cháu vào đó thăm và nói
chuyện với ba, hỏi sức khỏe ba như thế nào, rồi ba hỏi lại sức khỏe tụi
con thôi. Còn nói cái gì khác, hay nói chú nào hỏi thăm ba là mấy ông
cai tù không cho. Còn hỏi thêm ông nầy, ông nọ là ba con bị 2 người xốc
nách vô trong liền, không cho cháu thăm nữa. Sự thật như vậy đó.
Thanh Quang: Thành ra tâm sự của ba cháu trong tù, cháu không
được biết gì thêm?
Anh Thư: Dạ không được biết gì hết trơn. Còn ba gởi thư
ra thì trạm kiểm hết. Nếu họ cho là lu bu rồi thì ém thư thôi. Có nhiều
khi 4-5 tháng cháu không nhận được lá thư nào của ba hết. Cháu tưởng ba
bị chuyển đi nơi khác. Ròng rã như vậy tới 2 năm luôn. 2 năm cháu không
biết ba làm gì trong đó. Họ cắt hết. Cháu gởi tiền cùng những thứ khác
vô, nhờ mấy cô quen gởi vô cho ba, họ cũng không cho, trả về hết luôn.
Bẵng tin gần 2 năm trời như vậy. Sau này cháu mới nghe là ba bị kỷ luật
vì tố cáo ông gì trong trại đó.
Thanh Quang: Còn tình trạng khắc nghiệt trong tù mà ba cháu
phải chịu đựng trong hơn 3 thập niên, ba cháu có thố lộ với cháu, với
gia đình không?
Anh Thư: Dạ không, ba không có nói, ba không có thố lộ
gì hết. Cách đây 4-5 năm, mỗi lần cháu vô thăm, ba gặp ba không có nói,
chẳng hạn như, “con có khỏe không”, hay thế này thế kia, mà ba chỉ nói
“con ơi con, ba bị oan, ba bị oan. Con làm sao ra ngoài giúp ba”. Nhưng
cháu không biết làm sao giúp được. Vì ba không nói gì thêm mà chỉ gào
thét lên rằng “ba bị oan, ba bị oan” thôi. Hiện tại bây giờ, sau khi chú
Nguyễn Bắc Truyển ở tù trong đó về kể lại thì cháu mới biết đầu đuôi câu
chuyện. Chứ lúc đó thì ba nói con kêu oan cho ba thôi.
Thanh Quang: Cháu vừa nhắc tới sự oan sai. Được biết kể từ 28
năm qua, ba cháu đã làm hơn 500 đơn khiếu nại về cảnh tù tội oan sai của
mình. Vấn đề này như thế nào?
Anh Thư: Về oan sai thì ba có viết hết trên giấy rồi.
Nói chung cháu chỉ nghe loáng thoáng vậy thôi chứ cháu không có biết. Ba
thì không khi nào ngồi nói vần đề này cặn kẽ với cháu. Nhưng ba đã nói
nhiều với chú Nguyễn Bắc Truyển vì 2 người ở trong đó thường hay tâm sự
nhau. Còn cháu vô thăm chỉ gặp ba 15 phút. Cháu đi đường một ngày trời
mà chỉ được gặp ba 15 phút thì mấy người đó không cho gặp nữa. Có xin dữ
lắm thì họ cho thêm 5 phút nữa thôi. Ba chỉ hỏi lòng vòng chút vậy thôi
chứ không có nói gì nhiều hết. Muốn nói nhiều hơn nữa thì họ cũng không
cho nói.
Ông Nguyễn Bắc Truyển kể về những điều mà ông biết về người tù Nguyễn
Hữu Cầu.
Nguyễn Bắc Truyển: Thật sự rất là đau lòng cho trường hợp anh Nguyễn Hữu
Cầu vì có thể là anh Cầu biết quá nhiều thâm cung bí sử trong thời gian
anh bị giam giữ. Và trước đây vụ án của anh ấy là một vụ án oan sai,
người ta bắt bỏ tù, thậm chí kêu án tử hình để nhằm bịt miệng anh ấy
lại, không cho anh nói sự thật nhục nhã cho các quan chức vào thời kỳ
anh Cầu chứng kiến việc làm đồi bại của họ tại Kiên Giang.
Không có tội mà phải làm đơn xin ân xá?
Quay lại với với cô Nguyễn Thị Anh Thư, chúng tôi hỏi tiếp: Nghe nói gần
đây, ban giám thị trại tù khuyên ba cháu làm đơn xin đặc xá, nhưng ông
khước từ. Sao ba cháu lại khước từ như vậy? Cháu có ý kiến gì về sự
khước từ đó không?
Anh Thư: Dạ ba có nói là ông giám thị trại bảo ba làm đơn xin đặc xá đi
rồi người ta xem xét cho về. Nhưng ba nói “Không. Đơn đặc xá thì tôi
không làm vì tôi thật sự là không có tội. Tôi không có tội thì làm sao
tôi làm đơn đặc xá được”. Hai lần trước cháu đi thăm, ba có nói như vậy.
Ba nói “tôi nói thật với mấy anh là tôi không có tội; bắt nhầm tôi rồi
nhốt tôi trong hai mươi mấy năm trời. Tôi kêu oan biết bao nhiêu lần mà
không ai lên tiếng. Bây giờ nói tôi có tội, phải làm đơn đặc xá mới cho
về. Tôi không có tội tình gì hết”. Ba cháu có nói như vậy đó.
Thanh Quang: Hoàn cảnh gia đình cháu gặp khó khăn ra sao kể từ khi ba
cháu lâm cảnh tù đày dài lâu như vậy?
Anh Thư: Dạ hồi ba cháu mới đi học tập goi là cải tạo, chứ chưa có đi
tù, thì mẹ cháu đã đi lấy chồng rồi. Như vậy là ba cháu ở tù, mẹ cháu có
chồng khác, chị em cháu thất lạc nhau. Cháu mới nhận lại người em ruột
cháu từ năm 2004 tới bây giờ sau khi 2 chị em thất lạc từ nhỏ. Riêng
cháu thì phải ở với người này người kia, làm công việc nhà hay giúp họ
buôn bán ở ngoài chợ để kiếm miếng ăn. Cháu đâu có tiền bạc, thời gian
để đi học. Nói chung là khổ lắm.
Thanh Quang: Nhân đây cháu có muốn nói lên những gì thêm nữa với công
luận trong và ngoài nước không?
Anh Thư: Dạ, lời cháu xin nói ở đây là cháu tha thiết, cháu rất là tha
thiết, mong các bác, các chú, các cô (nghẹn ngào) thương ba cháu, lên
tiếng cho ba cháu về. Như vậy là cháu cảm ơn lắm rồi (khóc). Tại vì một
người bình thường sống ở trong tù 10 năm đã thấy khổ sở lắm rồi, chứ
đừng nói là 28 năm. Chịu không nỗi đâu! (khóc). Sau cùng cho cháu kính
lời cảm ơn các cô, chú, các bác trong những hội giúp đỡ ba và cháu.
Thành thật cảm ơn các chú, các bác.
Thanh Quang giới thiệu “người tù mãn kiếp” thứ nhì: ông
Truơng Văn
Xương.
Sáng hôm 12 tháng 7 năm 2010 lúc 4 giờ sáng công an trại giam Nam Hà đã
làm thủ tục trả tự do cho ông Trương Văn Sương người tù cải tạo được xem
là có thời gian bị giam giữ lâu nhất trong lịch sử Việt Nam kể từ sau
1975.
Bị kết tội gián điệp.
Ông Sương sinh năm 1943, năm nay 67 tuổi, quê ở Mỹ Tú tỉnh Ba Xuyên. Cha
ông là người Hoa, mẹ người Khmer nhưng sinh ra trên đất Việt. Trước năm
1975 ông là trung úy phân chi khu trưởng chi khu Mỹ Tú, Ba Xuyên.
Sau năm 1975 ông bị đưa đi cải tạo tổng cộng 6 năm từ 1975 đến 1981 tại
Quảng Bình. Sau khi ra trại ông vượt biên sang Thái và ngay sau đó tham
gia tổ chức kháng chiến của Trần Văn Bá, Lê Quốc Túy để xâm nhập vào
Việt Nam nhằm tìm cách gây dựng những cơ sở đấu tranh ở trong nước nhằm
vũ trang chống lại Hà Nội.
Tổ chức này đã bị tình báo Hà Nội gài người vào từ Thái Lan do đó khi họ
chưa về tới Việt Nam thì một mạng lưới tinh vi đã giăng ra chờ họ. Tất
cả mọi người tham gia đều bị bắt khi vừa đặt chân vào đất Việt Nam.
Nhiều người trong nhóm đã bị kết án tử hình như Trần Văn Bá, Trần Thái
Bạch, Lê Quốc Quân... riêng ông Trương Văn Sương bị kết án chung thân vì
tội gián điệp.
Từ khi bản án được tuyên, ông Sương bị đưa đi qua rất nhiều nhà tù, như
Suối Máu thuộc tỉnh Đồng Nai, sau đó ra trại giam Quy Nhơn và lần lượt
những năm sau anh bị giải đi thụ án ở nhiều trại miền Bắc và cuối cùng
là trại giam Ba Sao, Nam Hà. Trại giam này là nơi anh ở lâu nhất.
33 năm cải tạo.
Trương Văn Sương bị giam tổng cộng 33 năm kể cả 6 năm bị tập trung cải
tạo vì tham gia quân đội VNCH.
Cách đây một tháng ban giám thị trại giam Ba Sao đã gửi công văn về cho
gia đình ông tại Sóc trăng thông báo ông bị suy tim cấp 3 cộng với huyết
áp cao và trại giam Nam Hà quyết định đưa ông ra khu chữa trị đặc biệt,
nơi mà linh mục Nguyễn Văn Lý được chữa trị trước đây.
Ông Sương đã được chữa bệnh tại Phủ Lý và theo anh Dũng con trai ông cho
biết thì ông Sương được bác sĩ theo dõi và chăm sóc hàng ngày khá chu
đáo.
Ông Nguyễn Khắc Toàn, một bạn tù của ông Sương kể lại: “Nhiều lần anh đã
bị đưa xuống những khu biệt giam tại trại Ba Sao, anh đã phanh ngực
thách thức công an và hô vang những khẩu hiệu tranh đầu cho tự do dân
chủ.”
Thanh Quang liên lạc được với Ông Trương Văn Sương khi ông còn ngồi
chung xe với con do công an chở từ Nam Hà về lại Sóc Trăng.
Việc hộ tống hai cha con ông Sương cho thấy cuối cùng thì nhà cầm quyền
Hà Nội cũng lo ngại dư luận thế giới về sự ngược đãi tù nhân chính trị
của họ và đã tránh tối đa việc này bằng cách áp tải tù nhân về đến tận
nhà như từng làm đối với linh mục Nguyễn Văn Lý trước đây.


Anh Trương văn Sương chụp bên di ảnh vợ.
[Hình ảnh do gia đình cung cấp.]
Sau hơn 33 năm tù đày trở về ngôi nhà nghèo nàn người vợ đã không còn.
Thanh Quang bắt đầu cuộc phỏng vấn, “Trước hết ông cho biết về sức khỏe
của ông.
Ô. Trương Văn Sương: tôi còn yếu lắm, bị suy tim cấp 4, rồi áp huyết cao
nữa. Thuốc men tôi uống hàng ngày. Ngày nào có thuốc thì đỡ, còn không
có thuốc thì tôi mệt lắm, thở không kịp. Nay mai tôi cũng định tìm chỗ
nào đó chữa trị bệnh tim cho ổn định.
Thanh Quang: Thưa ông, từ lúc về nhà đến giờ, ông có gặp trở ngại gì từ
phía chính quyền địa phương không?
Ô. Trương Văn Sương: Không có. Khi tôi về tới thì họ cũng cho làm thủ
tục, bắt con tôi đứng ra bảo lãnh cha. Rồi con cũng phải cam kết động
viên cha chấp hành luật pháp nhà nước.
Thanh Quang: Xin ông cho biết lý do được phóng thích khỏi cảnh lao tù
sau hơn 3 thập niên bị giam giữ?
Ô. Trương Văn Sương: Họ không phóng thích, mà tạm đình chỉ thi hành án
12 tháng. Lý do là vì tôi bị chứng suy tim và áp huyết cao, có thể nguy
hiểm đến tính mạng. Nên họ cho con tôi bảo lãnh về nhà để tìm thầy thuốc
chữa trị.
Tổng cộng từ 1975 tới giờ, tôi đã ở tù 33 năm 4 tháng rưởi. Những nỗi
khó khăn, cực khổ đó thì không thể nào tả nổi, không thể nào lường được.
Nhưng đối với tôi bây giờ thì tôi cho đó là chuyện quá khứ.
Thanh Quang: Thưa ông, trong hơn 3 thập niên trong vòng lao lý khắc
nghiệt của cộng sản, những khó khăn nổi bật nào mà ông cần trình bày với
công luận hôm nay?
Ô. Trương Văn Sương: Dạ khó khăn thì cũng đã khó khăn rồi. Tôi đã từng ở
tù từ ngày 30 tháng Tư năm 1975 với tư cách sĩ quan tập trung trong 6
năm cho tới năm 1981.
[Hình ảnh người Tù Trương Văn Sương đang trả lời phỏng vấn của Biên Tập
Viên Thanh Quang đài RFA.]
Rồi sau khi ra tù năm 81, tôi mới vượt biên sang Thái Lan và gia nhập
vào Mặt Trận Thống Nhất Các Lực Lượng Yêu Nước Giải Phóng VN. Tôi dẫn
một đoàn hành quân từ Thái Lan nhập biên vào Hòn Đá Bạc tại Mũi Cà Mau.
Đến đó thì tôi bị bắt, bị kết án với bản án chung thân vào ngày 1 tháng
3 năm 1983. Tính đến nay là 27 năm 4 tháng coi như mười mấy ngày. Thôi,
ai cũng có cái sai và ai cũng có sơ suất. Chuyện đó mình cũng nên thông
cảm. Và theo ý tôi thì bây giờ tôi muốn hướng về tương lai, nghĩa là
muốn con người đối xử với nhau cho có lòng nhân đạo. Dân tộc VN phải
biết thương dân tộc VN. Và chúng ta là người VN thì phải có bổn phận và
trách nhiệm đoàn kết với nhau, góp công, góp sức vào công cuộc xây dựng
tổ quốc VN cho giàu mạnh. Theo ý của tôi là như thế. Còn quá khứ cứ để
cho nó về quá khứ.
Thanh Quang: Thưa, chúng tôi được biết ông đã nhiều lần tỏ ra bất khuất
trước hành động đàn áp tù nhân chính trị trong tù, kể cả việc hô to
những khẩu hiệu chống Hà Nội, tố cáo chế độ lao tù dã man, bản án bất
công. Ông có thể cho biết về vấn đề này được không?
Ô. Trương Văn Sương: Được. Trước đây thì tôi cũng là người chống đối cực
kỳ tại trại giam Nam Hà. Tất cả anh em đó đều gọi tôi là người hùng. Cứ
6 tháng đầu năm là tôi
bị đi cùm, biệt giam, kỷ luật. Mỗi năm thì tôi bị
đi 2 lần như vậy. Không có gì khác hơn là họ bảo tôi viết một bản kiểm
điểm. Tôi viết bản kiểm điểm với nội dung như sau:
“Chúng tôi khẳng định rằng chúng tôi vô tội. Chúng tôi là những người có
công với đất nước. Mặc dù chúng tôi không đắp được một con đường hay xây
được cái nhà, nhưng chúng tôi là những người đã đem mồ hôi, nước mắt,
xương máu để đấu tranh cho nhân quyền, tự do, dân chủ cho VN.
Còn nói những người có tội, thì chính đảng CSVN là những người có tội.
Họ đã 2 lần gây thêm thù và bớt bạn. Bằng chứng là, họ đã cải cách ruộng
đất, cải tạo công thương nghiệp, giết chết hàng triệu người Miền Bắc vô
tội. Và lần thứ hai là vào năm 1975, khi chiếm được Miền Nam, họ bày ra
tập đoàn, tập thể, thu gom, làm cho người dân VN bất mãn, kể cả giới xe
lôi, xe kéo, nông dân và những trung nông giàu có... đều bị đánh tư sản.
Dân VN không thể sống nổi, bế bồng nhau đi vượt biển, xuống thuyền ra
ngoài biển để làm mồi cho cá – cũng gần cả triệu người. Chính quyền hiện
tại là một chính quyền thối nát, tham nhũng. Những đảng viên, những
người chức quyền, họ mới có cái quyền tham nhũng. Còn những người bán
rau, dân xe lôi, xe kéo... thì làm gì có chuyện đó. Cho nên chúng tôi
mới khẳng định rằng chính quyền này, chúng tôi không ủng hộ, không tán
thành. Hơn nữa, họ còn bán đảo Hòang Sa, bán Trường Sa, rồi bán một phần
đất liền dọc theo biên giới Việt-Trung gần 70 km2 – gần bằng diện tích
của tỉnh Bắc Ninh. Điều đó chứng tỏ họ bán đất, bán đảo, họ hiến dâng
như vậy để củng cố địa vị của họ trong Bộ Chính trị.”
Thanh Quang: Thưa được biết có lúc Bộ Công an VN yêu cầu ông làm đơn xin
ân xá, khoan hồng, nhưng ông khước từ. Lý do nào ông khước từ như vậy?
Ô. Trương Văn Sương: Dạ họ bảo tôi làm đơn, nhưng tôi không làm. Bởi vì
tôi xác định rằng tôi không có tội. Tôi là người có công mà bắt tôi làm
đơn xin như vậy là tôi không đồng ý. Nhưng đến khi tôi ngã bệnh rồi, áp
huyết cao, tim bị suy, thì họ bắt tôi làm đơn xin ân xá, tôi có làm. Vì
tôi nghĩ rằng nếu không làm thì tôi sẽ bỏ xác tại đây. Buộc lòng tôi
phải làm đơn để ra ngoài. Rồi sau này thì lịch sử, xã hội, anh em, mọi
người sẽ chứng minh cho lòng thành của tôi.
Thanh Quang: Sau cùng, thưa ông, sau hơn 3 thập niên bị cảnh lao lý khắc
nghiệt, ông có nhận xét gì không về vấn đề này?
Ô. Trương Văn Sương: Sau cảnh lao lý như thế này, tôi cho rằng sự chịu
đựng của con người tôi, tôi không tưởng tượng được. Tôi không ngờ tôi
chịu đựng nổi đến mức này.
Thanh Quang: Thưa, xin cảm ơn ông Trương Văn Sương rất nhiều.
Ô. Trương Văn Sương: Dạ, cảm ơn anh.
Tôi xin mạn phép ông (hay cô) Thanh Quang trích nguyên văn bài ông viết,
vì bài gồm toàn những câu đối thoại, cần được giữ chính xác. Tôi cũng
xin ông cho biết điện thoại, hoặc địa chỉ của ông Trương Văn Sương và cô
Anh Thư để chúng tôi và độc giả liên lạc giúp đỡ hai nhân vật vô cùng
xứng đáng được người Việt hải ngoại giúp đỡ này.
Nguyễn Ðạt Thịnh
Đăng ngày Thứ 6, August
6, 2010
Ban Kỹ Thuật
Bấm vào đây để in ra giấy (Print)