Bấm vào đây để in ra giấy (Print)
Sinh
Nam
. . .
Tử
Bắc
Kính
dâng anh linh các Chiến hữu:
Nguyễn Chuyên
Ðinh
Như Khoa
Nguyễn Hữu Thảo
và các Chiến hữu đã yên nghỉ trong lòng đất mẹ.
Cá kình
Nguyễn
Văn
Tâm
(Sở
Bắc và Sở Khai Thác Ðịa Hình)
Buổi chiều cuối Hạ bên bờ biển Mỹ Khê, trong
ngôi nhà nghỉ mát yên tịnh. Nó không ồn ào rầm rộ như một cuộc hành quân
qui mô, nhưng rất quan trọng, tỷ mỷ cẩn thận với những trang bị đặc biệt
và mìn định giờ.
Tại căn cứ nầy có anh Ba là người điều khiển và huấn luyện Toán Công Tác
cùng với ba người Mỹ tên Bil, Dan và Bob phụ trách kỹ thuật và thực tập.
Anh Phan điều khiển và huấn luyện Toán Biệt Hải.
Toán Công Tác người nhái có nhiệm vụ phá hoại gồm bốn người: Tôi (anh
Tư) và anh Năm, hai đứa chúng tôi từ Liên Ðoàn 77 Sở Khai Thác Ðịa Hình,
còn anh Sáu và anh Bảy do Hải Quân gởi qua. Toán Biệt Hải gồm mười hai
người có nhiệm vụ lái tàu hoặc thuyền đưa Toán Công Tác đi hoạt động dẫn
đường đi và đón về. Sau nhiều tháng thực tập, nghiên cứu địa hình, địa
thế, không ảnh, kiểm soát lại dụng cụ, hôm nay là thời điểm xuất phát
vào cuối mùa Hạ năm 1962. Dưới ánh sao lờ mờ, một chiếc thuyền lớn trang
bị máy chạy dầu với lưới đánh cá nằm gọn dưới cột buồm. Thủy bàn gần tay
lái. Một chiếc thuyền cao su chưa bơm hơi và chiếc thuyền gỗ nhỏ sức
chứa độ mười người. Ở giữa thuyền gỗ có một lỗ vuông thòng xuống nước là
chỗ để gắn máy nổ nhỏ cho Toán Công Tác và người hướng dẫn di chuyển
trong sông. Thuyền được cải trang thành thuyền đánh cá của ngư dân trong
vùng trên bờ nhìn xuống không thể phân biệt được là thuyền của Toán Công
Tác. Toán nầy thường xuyên công tác ở Vịnh Hạ Long, Móng Cái, Bạch Long
Vĩ. Toán Công Tác được trang bị gọn và nhẹ gồm: Hai đèn bấm điện tử để
liên lạc giữa hai thuyền. Súng lục để tự vệ khi cần. Mìn đặc biệt định
giờ có thể sử dụng từ 5 phút đến 30 ngày. Một đơn vị hỏa lực nhỏ cho tập
thể sử dụng khi cần để tháo chạy.
Màn đêm phủ xuống, những bóng đen bắt tay từ giã trong tiếng "Good luck"
của ba anh bạn Mỹ.
Tiếng sóng vỗ nhẹ vào mạn thuyền nghe lách tách, thuyền hướng mũi ra
khơi. Bầu trời đầy sao, nhìn quanh là biển cả bao la, với bản tính tự
tin, dày dạn với công tác thường xuyên nên một số đã an giấc. Riêng mấy
anh em chúng tôi còn ngồi hướng tầm mắt về phía trước tuy chưa phải lúc
cảnh giác địch vì một đêm và một ngày sau thuyền mới tới địa điểm công
tác. Mặc dù vậy, chuyến đi bí mật vào đất địch, đầu óc luôn suy nghĩ kỹ
lại những việc phải làm trong đêm mai. Ðang triền miên suy nghĩ, có
tiếng nhắc nhở các anh nên nghỉ đi để đêm mai mà công tác chứ.
Chiều ngày hôm sau, thì anh thuyền trưởng và thợ máy nói đến rồi. Lúc
nầy thuyền còn đang ngoài hải phận quốc tế từ từ tiến vào bờ, khi nhìn
thấy lờ mờ một giải màu xanh đậm thì đúng chín giờ tối. Thuyền lớn thả
neo, thuyền máy nhỏ đã được hạ thủy. Nhanh nhẹn mà không gây một tiếng
động. Bốn chúng tôi qua thuyền nhỏ cùng ba người hướng đẫn viên nhắm cửa
Sông Gianh tiến vào. Tiếng máy nổ rất nhỏ mà thuyền lướt đi rất nhanh đã
qua khỏi khu Phà, chúng tôi quan sát thấy trên bờ mấy bóng đèn như đom
đóm. Yên tâm, chúng tôi bắt đầu mang trang bị, dụng cụ sẵn sàng. Khi
chúng tôi nhìn qua ống dòm thấy bóng đèn xanh nhỏ phía trước. Nếu không
để ý kỹ, nó như một ngôi sao trong đêm tối phía dưới là ba bóng đen đậm,
đúng là tàu hải quân cộng sản rồi, chúng đang neo tại vị trí đúng như
trong không ảnh. Cho thuyền chạy qua để quan sát thật kỹ, trở lại ghi
nhận điểm tiếp đón, rồi quay lại điểm thả. Anh Bảy xuống trước, đến tôi,
sau cùng là anh Sáu. Lặng lẽ bơi đến gần tôi thấy rõ mục tiêu mới lặn để
khỏi lạc vị trí. Tôi lặn tới gắn mìn vào thân tàu phía dưới gần chân vịt
là nơi có buồng máy.
Khi tôi bắt đầu tìm hướng lặn ra xa thì thình lình một tiếng nổ lớn vang
lên. Tôi cảm thấy đầu óc choáng váng rồi bất tỉnh một hồi lâu. Khi tỉnh
lại tôi biết là mìn nổ quá sớm. Nhờ những lườn tàu nằm cách nhau khá xa
nên tôi đã thoát chết. Kế hoạch đã bị lộ. Tôi cố gắng trấn tĩnh tinh
thần lặn tới vị trí tiếp đón. Khi đã xa vừa nhẹ trồi đầu lên để quan sát
thì thuyền tiếp đón đã không còn nữa, lại nghe một tiếng la thất thanh ở
trên bờ và tiếng chân chạy vội, tôi liền lặn ra xa bờ. Lúc nầy đầu còn
choáng váng căng thẳng, chưa tính lên bộ hay tiếp tục đi dưới nước.
Quyết định là phải thoát bằng đường bộ, ngày trốn nghỉ tối đi. Từ vị trí
công tác vào sông Bến Hải chỉ có một trăm cây số.
Càng lo khi nghe tiếng máy động cơ của tàu địch. Nguy rồi, đèn của địch
chiếu sáng rọi quét toàn vùng và di chuyển dần ra cửa biển. Khoảng cách
giữa tôi và tàu không quá ba mươi thước. Hễ khi ánh đèn quét về phía
tôi, thì tôi lặn xuống, ngửa mặt nhìn lên khi không còn ánh sáng, ngoi
lên mặt nước quan sát. Cứ thế nhiều lần như vậy. Giữa khoảng thời gian
nầy tôi nhìn thấy hai chiếc xà lan không người tôi liền đứng vào giữa
khe ẩn nấp. Ánh sáng đèn vẫn tìm kiếm, càng lúc tàu chạy càng xa dần cho
đến khi yên lặng. Tôi lần mò ra phía sau cuối xà lan thì giật mình vì
hai chiếc thuyền của dân cột gần đó. Im lặng quan sát hồi lâu thì ra
trên thuyền không có người. Bơi nhẹ đến gần. Một chiếc có mui kín, chiếc
bên cạnh không mui, nhìn vào khoang thuyền, một tia hy vọng mỏng manh,
tôi liền nhẹ nhàng nhổ cây sào lên, đẩy ra giữa giòng sông mới trèo lên
thuyền. Dưới cái nón lá là cái rổ có ít tôm, rổ thứ hai là cá nhỏ, thực
phẩm đây rồi. Nắng nóng mùa Hạ cứ phơi khô, gặm nhắm dần cũng được mấy
ngày. Dấu vật dụng xuống dưới chỗ đứng, tôi lắp chèo vào. Lúc nhỏ tôi đã
thạo chèo ghe. Cứ chèo ra ngoài hải phận quốc tế thì yên tâm. Trong
người độc nhất chiếc quần xà lỏn. Lấy nón đội lên, nhờ xuôi nước nên
thuyền đi khá nhanh.
Trời đêm ba mươi tối đen như mực, thuyền đã ra gần cửa biển. Bất thình
lình hai ngọn đèn pha chiếu sáng ngay vào thuyền của tôi. Nguy rồi, bọn
chúng đã đón ở cửa sông. Thoáng nghĩ nhanh. Ngồi xuống thả bnh hơi,
thủy bàn, đồng hồ chỉ còn lại cây súng lục. Dự tính ít nhất cũng hạ được
mấy tên, dành cho mình một viên. Suy nghĩ đổi thế thì lỗ quá. Qua bao
nhiêu tháng, năm được đào tạo, học tập, huấn luyện mà trả với cái giá
như thế sao? Ðến lúc nào đó quá sức chịu đựng thì tự sát. Nhưng ánh đèn
pha chói sáng choang không nhìn thấy tên nào cả, đành phải thả súng
xuống nước luôn.
Có tiếng hỏi từ trên tàu: Ai? Ði đâu đó?
Tôi trả lời: Tôi đi mừng lưới.
Hỏi: Tại sao đi có một mình?
Trả lời: Hôm nay vợ con bệnh, mừng chung với người ta.
Dưới ánh sáng đèn pha chúng đã phát hiện ra cái áo cao su và chân vịt
(chưa kịp thả, có thả nó cũng nổi trên mặt nước) dưới chỗ đứng của tôi
nên chúng la lên tên Biệt Kích đây rồi. Không biết bao nhiêu tiếng lên
đạn, sẵn sàng nhả nạn nếu tôi có hành động gì. Chưa tính ra phải làm gì
trong lúc cùng, thì bốn, năm tên nhảy qua thuyền đánh đập tới tấp vào
người tôi, bảo đầu hàng.
Bọn chúng lấy giây trói khuỷu cánh tay tôi lại đưa vào bờ. Hai tên cầm
súng chĩa vào tôi và cầm chắc sợi giây thừng khoảng cách 3, 4 thước.
Trời vẫn chưa sáng. Hừng đông dẫn tôi đi, sáng ra thì chúng bịt mắt.
Trong lúc khập khễnh từng bước, bên tai nghe tiếng nói của dân đi làm
hỏi ai đó các anh: Biệt Kích đó. Có tiếng ồ, to béo quá, đen thui. Ðến
khi chúng nó bảo dừng lại, ngồi trên chiếc ghế, trói vào một cây cột.
Không nghe tiếng nói, mà chỉ nghe tiếng chân đi lại nhiều. Chiều thì
chúng đưa tôi lên vào trại Quảng Bình. Phòng nhỏ hôi hám, lại bị cùm cả
hai chân, chúng mới mở mắt cho tôi. Phần ăn là bát cơm gạo lức đỏ, mấy
cộng rau muống, làm sao nuốt vô được. Ôn lại càng thắc mắc. Tại sao qua
bao nhiêu ngày tháng tôi và Bill đã kiểm tra thử đồng hồ rất chính xác.
Vậy tại sao?
Không kể ngày đêm chúng đều kêu lên hỏi cung. Trước mặt là cái bàn nhỏ,
bàn đối diện là năm tên hỏi cung, hết tốp nầy đến mấy tên khác. Chúng
hỏi đơn vị, nơi xuất phát, bao nhiêu người, nhiệm vụ làm gì ?
Tôi chỉ trả lời ra thám sát bến phà Sông Gianh, đo độ dốc bờ sông, mức
nước, độ sâu. Trách nhiệm cấp trên giao cho tôi chỉ có vậy thôi. Còn để
làm gì thì tôi không biết. Vì tôi bị bắt tại cửa sông mà.
Mở ngoặc ở đây một tí. Chúng hỏi tôi trong Nam ăn tiêu chuẩn bao nhiêu?
Ngẫm nghĩ hồi lâu tôi trả lời: Tiêu chuẩn là gì? Xã hội tự do làm gì
phải có tiêu chuẩn. Tên ngồi giữa đập bàn cái rầm, làm gì có ăn uống bừa
bãi vậy. Rõ ràng mấy tên nầy đều bị mù quáng cả trong sinh hoạt.
Trải qua đã hơn mười ngày. Chúng không khai thác được gì ở tôi. Cuối
cùng chúng đưa toàn bộ vật dụng hình ảnh ra chứng minh và nói rằng anh
là một người đại ngoan cố, tất cả đều bị bắt hết rồi. Gây tội lỗi trong
Nam chưa đủ còn ra phá hoại thành quả Xã Hội Chủ Nghĩa ở miền Bắc! Cuối
cùng tôi nhận là ra phá tàu hải quân. Một trò hề mà tôi đã ý thức được
như sau:
Một người độ hơn 50 tuổi, tự giới thiệu là luật sư, cùng đi với một
người nữa độ chừng 30 tuổi, xưng là thư ký. Mỉa mai quá! Thư ký mà mang
xắc cốt công an. Tôi cũng thừa biết cộng sản làm gì có luật để mà cãi
chứ, mà có phát biểu cũng phải nói theo đường lối cộng sản mà thôi. Ông
ta nói một hơi. Tôi liền trả lời. Việc tôi làm đã rõ ràng, không cần
phải biện hộ. Tự bản thân tôi trả lời cũng đủ rồi. Mấy lần sau trong câu
nói của luật sư như khẩn thiết, cho nên tôi nói nhiệm vụ của ông được họ
giao phó thì tùy, hiểu biết như thế nào thì nói như thế đó, tôi không
xin xỏ, không bào chữa, vì tôi làm việc cho Tổ Quốc, thi hành nghiêm
chỉnh kỷ luật Quân đội đã giao phó.
Hai mươi ngày sau thì mở phiên tòa.
Tám giờ sáng, chúng còng tay tôi và dặn nếu trên đường đi mà đồng bào có
hành động gì thì không được chống đối lại. Ðến đây tôi mới biết mọi
người đều bị bắt. Không có anh Năm và anh Bảy. Sau nầy ở chung trại tôi
mới biết anh Bảy chết tại chỗ vì mìn nổ, còn anh Năm tử thương sau khi
chống trả quyết liệt với chúng trên biển. Các anh kể lại rằng khi biết
bị lộ, nhân viên thuyền nhỏ chạy ra thuyền lớn nhổ neo chạy thoát.
Thuyền chạy cả máy lẫn buồm suốt đêm hôm đó cho đến gần trưa hôm sau thì
tàu Hải quân cộng sản chạy máy lớn hơn nên đuổi kịp, ban đầu thì chúng
nó bắn bao vây, cố ý muốn bắt sống tất cả. Anh em trên thuyền bắn trả
lại bằng trung liên BAR, súng phóng lựu. Hai bên vừa chạy vừa bắn nhau
như trong phim. Vũ khí trên tàu cộng sản thì lớn hơn và đầy đủ, còn bên
thuyền thì chỉ bắn để phòng thân, cuối cùng hết đạn. Lúc nầy anh Năm
trúng đạn, vài người khác bị thương, quyết định của thuyền trưởng là lao
mũi thuyền đâm vào tàu địch, hai bên cùng tan vỡ. Vị trí lúc nầy gần Cồn
Cỏ, nơi ranh giới Nam - Bắc. Tàu Hải quân máy mạnh, nên nhanh hơn.
Thuyền của ta luồn lách mãi sau cùng bị tàu địch càn lên chìm. Lập tức
chúng bắt những người còn sống đưa lên boang tàu phủ bạt kín, vội vã trở
ra Bắc.
Thường trong cái xui, còn có cái hên cho một người. Anh ta lặn núp vào
trong cánh buồm. Vì đây là ranh giới giữa hai bên, bọn chúng sợ quân ta
có thể tấn công nên vội vàng rút lui. Anh ta sống lênh đênh trên biển cả
một ngày một đêm với một tấm ván thuyền, và vớt được vài trái cam. Nhờ
tàu Hải Quân mình đi tuần, anh ta cởi áo lót vẫy và được Tàu Hải Quân ta
cứu thoát.
Trở lại phiên tòa quân sự Quân Khu IV. Viên Trung tá chánh án, hai Ðại
úy phụ thẩm, viên Thiếu tá Viện Kiểm Sát, một Thư ký, hội trường đông
nghẹt người. Chúng bắt loa ra cả sân Vận Ðộng cho dân chúng nghe. Quay
phim, chụp hình. Mục đích của chúng bày trò cho thật to chuyện để nói
với thế giới là miền Nam xâm phạm miền Bắc.
Ghê rợn nhất là lời buộc tội của viên công tố, thôi thì đủ điều để mà
phát biểu, gán ghép bao nhiêu điều ác cho Chánh phủ VNCH. Hai luật sư
biện hộ cho hơn mười người đều nói theo bản luận tội, nói là biện hộ cho
nó có lệ thôi, chớ chế độ cộng sản làm sao dám đưa luật ra mà cãi, dám
nêu lên cái đúng cái sai nếu không muốn gỡ lịch hàng năm. Phiên tòa kéo
dài hai ngày đêm. Trước khi nghị án, tôi phát biểu một công dân sống
trong chế độ phải làm tròn nhiệm vụ, kỷ luật Quân đội, phải thi hành
trách nhiệm được giao phó. Việc tôi làm đã rõ ràng. Tòa xử như thế nào
thì tùy tòa mà thôi.
Uất ức, tức tối muốn điên cả cái đầu. Nếu phá được cả ba chiếc tàu không
bị lộ thì phiên tòa hôm nay dành cho bọn chúng, chứ không phải là anh em
Chiến hữu chúng tôi.
Kết thúc phiên tòa: Tôi, tù chung thân; anh Sáu, tù 20 năm; thuyền
trưởng, tù 16 năm; thuyền phó, tù 6 năm; thợ máy kiêm hướng dẫn viên, tù
18 năm; hai anh tù 5 năm; bảy anh tù 3 năm; một anh tù 2 năm vì anh này
chưa đến 18 tuổi. Bản án là một trò hề. Hai năm hay chung thân đều cùng
chung một số phận ở tù từ 18, 20, 22 năm mới ra tù.
Sau đó chúng đưa đi các trại tù lao động khổ sai. Thôi thì không kể xiết
những cảnh lao lý cực hình mà bọn chúng đã hành hạ chúng tôi. Ðúng! Ai
có nếm mới biết mùi. Tôi muốn nêu lên vài điểm để làm sáng tỏ vấn đề
thực tế cho những ai còn mơ tưởng về chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa nó ác độc
như thế nào.
Chúng tôi đã trải qua các trại như Sơn Tây, hai lần trại Hà Giang thường
gọi là cổng trời. Hà giang Bắc một đi có, về không. Trại Phú Lu Lào Cai,
Tuyên Quang là trại cuối cùng. Về đây vì CSVN sợ Trung Quốc tấn công.
Quá trình mấy chục năm trong lao tù tàn độc dã man của CSVN, tôi nêu lên
đây những tinh thần tranh đấu bất khuất, những thương yêu đùm bọc lẫn
nhau trong hoàn cảnh cùng chung số phận.
Ðiển hình và quyết liệt nhất là vụ tuyệt thực bảy ngày năm 1973 của anh
em chúng tôi tại Phu Lu, Lao Cai.
Ngày ấy lên hội trường họ cho chúng tôi biết đã ký Hiệp Ðịnh Paris. Lúc
nào phần thắng cũng thuộc về CSVN. Theo chủ trương của Ðảng. Chánh phủ,
một số cán bộ lên hướng dẫn cho chúng tôi học tập, trong đó có vấn đề
gọi là bồi dưỡng, rêu rao là nhân đạo nhằm mục đích nếu sau nầy có được
trao trả bớt phần nào với bộ xương cách trí, da bọc xương, một bóng hình
còn di động được tố cáo tội ác dã man của chế độ lao tù cộng sản.
Họ đủ điều thuyết phục chúng tôi, bày trò bàn thờ Tổ quốc rồi tuyên thệ
không gây thêm tội ác, cũng như phá hoại các công việc của chế độ Xã Hội
Chủ Nghĩa.
Trước mặt họ chúng tôi cũng ừ hữ, gật, cũng hứa hẹn, vì đang còn trong
cái thế phải vờ chấp nhận. Làm thế nào mà họ có thể hiểu hết được trong
tiềm thức của chúng tôi. Miễn làm sao được đặt chân lên miền Nam đã.
Họ giết chết cha mẹ, họ hàng, anh em, vợ con của những người dân vô tội
trong dịp Tết Mậu Thân tại Huế năm 1968. Mối thù không đội trời chung
với cộng sản. Lúc nầy là thời điểm căng thẳng, bốn phía chòi canh bốn
cây đại liên sẵn sàng nhả đạn tiêu diệt, nếu chúng tôi bạo động, và toán
tù hình sự sẽ là vật hy sinh trước. Sở dĩ vì sao chúng tôi biết được tin
tức nhờ anh em chúng có liên lạc được với tù là những phần tử bất mãn,
oán hờn chế độ cộng sản thông tin cho chúng tôi biết để đề phòng.
Từ đó chúng tôi tuyệt thực tranh đấu đòi trao trả, vì anh em đã nghe đơn
vị Dù được trao trả rồi.
Hàng ngày tên công an trực đưa thức ăn vào đều bị anh em la ó, phản đối,
tên công an đã nói rằng tôi vào đây để nghe các anh chửi bới, các anh
không ăn thì đưa về. Sau đó chúng dở trò thâm độc ly gián anh em để hành
động dã man hầu dập tắt tinh thần đấu tranh đang dâng cao.
Tên công an tự giới thiệu là người của Bộ đưa xuống tuyên bố "hôm nay
các anh chuyển trại" bắt tất cả hơn trăm người tập họp, chung quanh là
bộ đội có võ trang với tư thế sẵn sàng để đàn áp. Chúng kêu tên từng
người lên xe, năm chiếc xe bắt đầu chuyển bánh. Chúng sắp đặt trước,
chiếc xe đầu chở 21 người, chúng nghi là có khả năng lãnh đạo, trong đó
có tôi, chạy thẳng lên trại Quyết Tiến Hà Giang. Mấy tiếng đồng hồ sau,
bốn xe kia quay trở lại trại, lùa tất cả vào phòng khóa cửa.
Anh em tranh đấu cho rằng cộng sản đưa số anh em đó đi thủ tiêu rồi.
Chúng kêu từng người nói là lên sinh hoạt, thực chất là đưa vào phòng kỷ
luật còng chân lại, dùng thủ thuật hành hạ dã man. Chúng đánh ông già
Trình thuyền trưởng rụng cả hai hàm răng, các anh em khác người bầm
ngực, bầm lưng, hộc máu mồm không được săn sóc chữa trị chi cả. Chúng
lại chuyển tiếp một số anh em đợt hai lên Hà Giang. Phòng kỷ luật chật
hẹp, tường đất dày 5 tấc, nền nhà luôn có nước đọng, khí hậu âm u rét
buốt có ngày xuống 4 độ âm, mỗi ngày ăn một chén bắp độ chừng 5 đến 60
hạt, vài hột muối trắng. Mục đích của chúng hành hạ cho đến chết thì
thôi. Số chết ở trại nầy hơn ba chục anh em.
Trong một buổi sáng tên công an vào cho sinh hoạt, trước khi bắt đầu, nó
bảo các anh hát một bài đi. Một anh liền trả lời: Chúng tôi chỉ biết hát
nhạc vàng, không biết hát nhạc đỏ. Chúng liền đưa anh bạn ấy đi vào hầm
và cùm hết chín tháng.
Bản thân tôi hai lần ở trại Quyết Tiến Hà Giang. Trại nằm sâu trong
rừng. Khí hậu ở đây vô cùng khắc nghiệt. Một năm cộng lại có hơi nắng
vài ba tháng, còn lại là mưa gió, sương mù cách nhau 3 thước không nhìn
thấy nhau. Những lúc này chúng tôi đều bị nhốt trong phòng. Mỗi lần có
gió mùa Ðông Bắc thổi về cơn lạnh thấu xương. Ðói lạnh, ghẻ lở vô cùng
cực khổ. Làm mà không đủ mức ấn định, chúng dùng hình thức vô nhân đạo
hạ mức ăn. Lao động khổ sai nên bị cụp xương sống, rối loạn thần kinh.
Một lần tôi bị kỷ luật cùm một tháng. Nguyên nhân là cái khăn lau mặt
của tôi có ba sọc đỏ đem phơi ngoài trời. Một tên nào đó báo cáo với tên
công an nói tôi treo cờ VNCH. Sau buổi sinh hoạt kiểm điểm chúng kết
luận tôi còn mong đợi Chánh phủ miền Nam. "Lúc này là thời kỳ oanh tạc
miền Bắc".
Kể về tội ác của cộng sản thì không giấy bút nào có thể tả hết những
thâm độc của chúng.
Hồi tưởng lại gần một phần tư thế kỷ bị giam cầm, hơn mười ba năm sống
dưới ách thống trị độc tài tàn ác của chế độ cộng sản, con người là cái
xác không hn, già yếu và bệnh tật.
Viết bài này tôi không có tham vọng nói lên điều sai hay đúng, chỉ mong
mỏi những người còn lại, bạn đồng đội đốt nén hương để tưởng nhớ, thương
tiếc và tri ơn các bạn đã hy sinh cho Tổ Quốc.
Cá kình Nguyễn Văn Tâm
Bấm vào đây để in ra giấy (Print)