Bấm vào đây để in ra giấy (Print)
Tình
cờ hôm nọ được cho tập hồi ký của Đức Cha Phao Lô Lê Đắc Trọng mới láng
máng biết rằng đó là Cha Chính Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh của nhà thờ
lớn Hà Nội, vì can tội không cho chính quyền trang trí trước cửa nhà
thờ, cha Chính Vinh bị kết án 3 năm tù, nhưng đi tù mãi chả thấy về, tăm
hơi biệt tích, hơn 40 năm sau nhờ bạn tù chỉ dẫn, người thân mới biết
nơi cha Chính Vinh chết để chuyển thi hài ngài về.
Từ nhỏ mình đã bị ấn tượng về những người bị bắt tù, mình luôn say sưa
đọc về những chiến sĩ cách mạng bị giam ở Hỏa Lò, Sơn La, Côn Đảo, những
vị anh hùng như Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn Cừ, Trần Phú... đến Hồ Chí Minh.
Thật ra hồi mình bé thời bao cấp chỉ
có sách về các nhân vật này thôi. Lớn chút mới đọc được Pa Pi Lon, thiên
hạ say mê anh chàng Bướm lắm, nhưng mình cũng chả thấy có gì hâm mộ anh
chàng này, bá tước Monte của Đuy Ma cũng không ấn tượng lắm vì có lẽ
thời kỳ của các nhân vật này khá xa lạ với Việt Nam, sau này có điều
kiện mới lùng được sách của Solzenitsyn như cuốn Tầng Đầu Địa Ngục, Một
Ngày Trong Đời của I Van, hay cuốn Lửa Yêu Thương, Lửa Ngục Tù của Re
Mac, cuốn Chuyện Kể Năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn. Mỗi nhân vật đều để lại
cho mình những ám ảnh, những ấn tượng. Nhưng có lẽ đoạn văn của Phùng
Quán viết lại theo lời kể của Tuân Nguyễn khi Nguyễn ở trong tù là ám
ảnh hơn cả.
Nhưng điều may mắn này mới là quan trọng hơn cả: trong mười năm qua,
mình đã sống giữa những con người vô cùng phong phú và phức tạp, chất
liệu sống vàng ròng cho các nhà văn. Mình chỉ đơn cử với cậu một
người....
“... Anh ta vào trại trước mình khá lâu, bị trừng phạt vì tội gì, mình
không rõ. Người thì bảo anh ta phạm tội hình sự, người lại bảo mắc tội
chính trị. Nhưng cả hai tội mình đều thấy khó tin. Anh ta không có dáng
dấp của kẻ cướp bóc, sát nhân, và cũng không có
phong độ của người làm chính trị. Bộ dạng anh ta ngu ngơ, dở dại dở
khùng. Mình có cảm giác anh ta là một khúc củi rều, do một trận lũ cuốn
từ một xó rừng nào về, trôi ngang qua trại, bị vướng vào hàng rào của
trại rồi mắc kẹt luôn ở đó. Nhìn anh ta, rất khó
đoán tuổi, có thể ba mươi, mà cũng có thể năm mươi. Gương mặt anh ta gầy
choắt, rúm ró, tàn tạ, như một cái bị cói rách, lăn lóc ở các đống rác.
Người anh ta cao lòng khòng, tay chân thẳng đuồn đuỗn, đen cháy, chỉ
toàn da, gân với xương.”
Trên người, tứ thời một mớ giẻ rách thay cho quần áo. Lúc đầu mình cứ
tưởng anh ta bị câm vì suốt ngày ít khi thấy anh ta mở miệng dù là chỉ
để nhếch mép cười. Thật ra anh ta chỉ là người quá ít lời. Gặp ai trong
trại, cả cán bộ quản giáo lẫn phạm nhân, anh ta đều cúi chào cung kính,
nhưng không chuyện trò với bất cứ ai. Nhưng không hiểu sao, ở con người
anh ta có một cái gì đó làm mình đặc biệt chú ý, cứ muốn làm quen....
Nhiều lần mình định bắt chuyện, nhưng anh ta nhìn mình với ánh mắt rất
lạ, rồi lảng tránh sau khi đã cúi chào cung kính. Hầu như tất cả các
trại viên, kể cả những tay hung dữ nhất, cũng đều thương anh ta. Những
trại viên được gia đình tiếp tế người để dành cho anh ta viên kẹo, miếng
bánh, người cho điếu thuốc. Ở trại, anh ta có một đặc quyền không ai
tranh được, và cũng không ai muốn tranh. Đó là khâm liệm tù chết. Mỗi
lần có tù chết, giám thị trại đều cho gọi “thằng khùng” (tên họ đặt cho
anh ta) và giao cho việc khâm liệm. Với bất cứ trại viên chết nào, kể cả
những trại viên đã từng đánh đập anh ta, anh ta đều khâm liệm chu đáo
giống nhau. Anh ta nấu nước lá rừng, tắm rửa cho người chết, kỳ cọ ghét
trên cái cơ thể lạnh ngắt cứng queo, với hai bàn tay của người mẹ tắm
rửa cho đứa con nhỏ. Lúc tắm rửa, kỳ cọ, miệng anh ta cứ mấp máy nói cái
gì đó không ai nghe rõ. Anh ta rút trong túi áo một mẩu lược gãy, chải
tóc cho người chết, nếu người chết có tóc. Anh ta chọn bộ áo quần lành
lặn nhất của người tù, mặc vào rồi nhẹ nhàng nâng xác đặt vào áo quan
được đóng bằng gỗ tạp sơ sài. Anh ta cuộn những bộ áo quần khác thành
cái gói vuông vắn, đặt làm gối cho người chết. Nếu người tù không có áo
xống gì, anh ta đẽo gọt một khúc cây làm gối. Khi đã hoàn tất những việc
trên, anh ta quỳ xuống bên áo quan, cúi hôn lên trán người tù chết, và
bật khóc. Anh ta khóc đau đớn và thống thiết đến nỗi mọi người đều có
cảm giác người nằm trong áo quan là anh em máu mủ ruột thịt của anh ta.
Với bất cứ người tù nào anh ta cũng khóc như vậy. Một lần giám thị trại
gọi anh ta lên: thằng tù chết ấy là cái gì với mày mà mày khóc như cha
chết vậy?
Anh ta chấp tay khúm núm thưa: thưa cán bộ, tôi khóc vờ ấy mà. Người
chết mà không có tiếng khóc tống tiễn thì vong hồn cứ lẩn quẩn trong
trại. Có thể nó tìm cách làm hại cán bộ. Lúc hắn còn sống, cán bộ có thể
trừng trị hắn, nhưng đây là vong hồn hắn, cán bộ muốn xích cổ, cũng
không xích được.
Thằng khùng nói có lý. Giám thị trại mặc, cho nó muốn khóc bao nhiêu thì
khóc. Nhưng mình không tin là anh ta khóc vờ. Lúc khóc, cả gương mặt
vàng úa, nhăn nhúm của anh ta chan hòa nước mắt. Cả thân hình gầy guộc
của anh ta run rẩy. Mình có cảm giác cả cái mớ giẻ rách khoác trên người
anh ta cũng khóc....
Trong tiếng khóc và nước mắt của anh ta chan chứa một niềm thương xót
khôn tả. Nghe anh ta khóc, cả những trại viên khét tiếng lỳ lợm, chai
sạn, “đầu chày, đít thớt, mặt bù loong” cũng phải rơm rớm nước. Chỉ có
nỗi đau đớn chân thật mới có khả năng xuyên
thẳng vào trái tim người. Mình thường nghĩ ngợi rất nhiều về anh ta. Con
người này là ai vậy? Một thằng khùng hay người có mối từ tâm lớn lao của
bậc đại hiền? Thế rồi, một lần, mình và anh ta cùng đi lùa trâu xuống
con sông gần trại cho đầm nước. Trời nóng
như dội lửa. Bãi sông đầy cát và sỏi bị nóng rang bỏng như than đỏ. Trên
bãi sông mọc độc một cây mủng già gốc sần sùi tán lá xác xơ trải một
mảng bóng râm bằng chiếc chiếu cá nhân xuống cát và sỏi. Người lính gác
ngồi trên bờ sông dốc đứng, ôm súng trú nắng dưới một lùm cây. Anh ta và
mình phải ngồi trú nắng dưới gốc cây mủng, canh đàn trâu ngụp lặn dưới
sông. Vì mảng bóng râm quá hẹp nên hai người gần sát lưng nhau. Anh ta
bỗng lên tiếng trước, hỏi mà đầu không quay lại:
- Anh Tuân này, không rõ anh ta biết tên mình lúc nào, sống ở đây anh
thèm cái gì nhất?
- Thèm được đọc sách, mình buột miệng trả lời, và chợt nghĩ, có lẽ anh
ta chưa thấy một cuốn sách bao giờ, có thể anh ta cũng không biết đọc
biết viết cũng nên.
- Nếu bây giờ có sách thì anh thích đọc ai? Anh ta hỏi.
- Voltaire! Một lần nữa mình lại buột miệng. Và lại nghĩ: nói với anh ta
về Voltaire thì cũng chẳng khác gì nói với gốc cây mủng mà mình đang
ngồi dựa lưng. Nhưng nhu cầu được chuyện trò bộc bạch với con người nó
cũng lớn như nhu cầu được ăn, được uống....
Nhiều lúc chẳng cần biết có ai nghe mình, hiểu mình hay không. Đó chính
là tâm trạng của anh công chức nát rượu Marmeladov bất chợt nói to lên
những điều tủi hổ nung nấu trong lòng với những người vớ vẩn trong một
quán rượu tồi tàn, mà Dostoievsky miêu tả trong “Tội ác và trừng phạt”.
Anh ta ngồi bó gối, mắt không rời mặt sông loá nắng, hỏi lại: trong các
tác phẩm của Voltaire, anh thích nhất tác phẩm nào?
Mình sửng sốt nhìn anh ta, và tự nhiên trong đầu nảy ra một ý nghĩ kỳ
lạ: một người nào khác đã ngồi thay vào chỗ anh ta.... Mình lại liên
tưởng đến một cậu làm việc cùng phòng hồi còn ở đài phát thanh, tốt
nghiệp đại học hẳn hoi, đọc tên nhạc sĩ Chopin (Sôpanh) là Cho Pin.
Mình trả lời anh ta: tôi thích nhất là Candide.
- Anh có thích đọc Candide ngay bây giờ không?
Không đợi mình trả lời, anh ta nói tiếp: không phải đọc mà nghe.... Tôi
sẽ đọc cho anh nghe ngay bây giờ.
Rồi anh ta cất giọng đều đều đọc nguyên bản Candide. Anh đọc chậm rãi,
phát âm chuẩn và hay như mấy cha cố người Pháp, thầy dạy mình ở trường
Providence. Mình trân trân nhìn cái miệng rúm ró, răng vàng khè đầy bựa
của anh ta như nhìn phép lạ. Còn anh ta, mắt vẫn không rời dòng sông loá
nắng, tưởng chừng như anh ta đang đọc thiên truyện Candide nguyên bản
được chép lên mặt sông....
Anh đọc đến câu cuối cùng thì kẻng ở trại cũng vang lên từng hồi, báo
đến giờ lùa trâu về trại. Người lính gác trên bờ cao nói vọng xuống:
“Hai đứa xuống lùa trâu, nhanh lên!”.
- Chúng mình lùa trâu lên bờ đi! Anh nói.
Lội ra đến giữa sông, mình hỏi anh ta: anh là ai vậy?
Anh ta cỡi lên lưng một con trâu, vừa vung roi xua những con trâu khác,
trả lời: tôi là cái thanh ngang trên cây thập tự đóng đinh Chúa.
Rồi anh ta tiếp: đừng nói với bất cứ ai chuyện vừa rồi....
Giáp mặt người lính canh, bộ mặt anh ta thay đổi hẳn: ngu ngơ, đần độn
như thường ngày. Cuối mùa đông năm đó, anh ta ngã bệnh. Nghe các trại
viên kháo nhau mình mới biết.
Thằng chuyên gia khâm liệm e đi tong. Thế là nếu bọn mình ngoẻo, sẽ
không còn được khâm liệm tử tế và chẳng có ai khóc tống tiễn vong
hồn..., những người tù nói, giọng buồn.
Mình gặp giám thị trại, xin được thăm anh ta.
Giám thị hỏi: trước kia anh có quen biết gì thằng này không?
Mình nói: thưa cán bộ, không. Chúng tôi hay đi lùa trâu với nhau nên
quen nhau thôi.
Giám thị đồng ý cho mình đến thăm, có lính đi kèm. Anh ta nằm cách ly
trong gian lán dành cho người ốm nặng. Anh ta nằm như dán người xuống
sạp nằm, hai hốc mắt sâu trũng, nhắm nghiền, chốc chốc lại lên cơn co
giật....
Mình cúi xuống sát người anh ta, gọi hai ba lần, anh ta mới mở mắt, chăm
chăm nhìn mình. Trên khoé môi rúm ró như thoáng một nét cười. Nước mắt
mình tự nhiên trào ra rơi lã chã xuống mặt anh ta. Anh ta thè lưỡi liếm
mấy giọt nước mắt rớt trúng vành môi. Anh ta thều thào nói: Tuân ở lại,
mình đi đây.... Đưa bàn tay đây cho mình....
Anh ta nắm chặt bàn tay mình hồi lâu. Một tay anh ta rờ rẩm mớ giẻ rách
khoác trên người, lấy ra một viên than củi, được mài tròn nhẵn như viên
phấn viết. Với một sức cố gắng phi thường, anh ta dùng viên than viết
vào lòng bàn tay mình một chữ nho. Chữ NHẪN.
Viết xong, anh ta hoàn toàn kiệt sức, đánh rớt viên than, và lên cơn co
giật.
Người lính canh dẫn mình lên giám thị trại với bàn tay có viết chữ Nhẫn
ngửa ra.
Người lính canh ngờ rằng đó là một ám hiệu.
Giám thị hỏi: cái hình nguệch ngoạc này có ý nghĩa gì? Anh mà không
thành khẩn khai báo, tôi tống cổ anh ngay lập tức vào biệt giam.
Mình nói: thưa cán bộ, thật tình tôi không rõ. Anh ta chỉ nói: tôi vẽ
tặng cậu một đạo bùa để xua đuổi bệnh tật và tà khí.
Nghe ra cũng có lý, giám thị trại tha cho mình về lán....
Trong số bao nhiêu nhân vật tù đã được nổi tiếng nhờ tiểu thuyết hóa,
người bạn tù của Tuân Nguyễn chỉ là hạt bụi bay qua so với những tác
phẩm đồ sộ để đời ấy, mấy ai biết đến nhà thơ Tuân Nguyễn và mấy ai biết
hơn về người bạn tù bí ẩn của ông. Người ta ấn tượng cách ông già của
Solzenitsyn đầu rụng hết tóc, nhai bánh mỳ bằng lợi hay già Đô của Bùi
Ngọc Tấn chết vất vưởng đâu đó trên phố phường Hà Nội khi mãn hạn tù...
mình cũng ấn tượng những nhân vật ấy.
Nhưng hình ảnh người tù xấu xí, nghèo khổ đọc nguyên bản Candide bằng
tiếng Pháp khiến mình luôn bị ám ảnh trong đầu, Tuân Nguyễn cả Phùng
Quán đều về thiên thu, giá như các cụ ấy còn sống mình cũng cất công đi
tìm hỏi người mà các cụ nói ấy là ai.

Linh mục Gioan Lasan Nguyễn Văn
Vinh
Tình cờ hôm nọ được cho tập hồi ký của Đức Cha Phao Lô Lê Đắc Trọng mới
láng máng biết rằng đó là Cha Chính Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh của nhà
thờ lớn Hà Nội, vì can tội không cho chính quyền trang trí trước cửa nhà
thờ, cha Chính Vinh bị kết án 3 năm tù, nhưng đi tù mãi chả thấy về, tăm
hơi biệt tích, hơn 40 năm sau nhờ bạn tù chỉ dẫn, người thân mới biết
nơi cha Chính Vinh chết để chuyển thi hài ngài về.
Sau này cất công đi hỏi một vài vị cao tuổi nữa, mới càng khẳng định
chính xác là Cha Chính Vinh. Đúng như lời Tuân Nguyễn nói, đây là chất
liệu vàng ròng cho các nhà văn. Tuân Nguyễn thì mất rồi, liệu ai tiếp
nối ước nguyện của ông để khai thác những chất liệu quý báu như thế này
không.
Người Buôn Gió
Nguồn:
Blog Người Buôn Gió
Huỳnh Lương Thọ, K4-71/SQTB/TĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH Sưu tầm
Bấm vào đây để in ra giấy (Print)
Đăng ngày Thứ Hai, NOV 22, 2010
Ban Kỹ Thuật K10A-72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH