Bấm vào đây để in ra giấy (Print)
Sau khi chiếm
được Nam Việt Nam, năm 1975, Cộng Sản miền Bắc lùa số lớn công chức,
quân nhân, đảng viên các đảng phái quốc gia, các nhà tu hành của các tôn
giáo miền Nam, ra Bắc "khổ sai biệt xứ". Liên Xô có Xi-bê-ri [Siberia]
thì Việt Nam có vùng núi non Tây Bắc khắc nghiệt, tuy không lạnh bằng
Xi-bê-ri nhưng cũng đủ cho tù chết dần. Chết vì lạnh, vì đói, vì lao
động kiệt sức, và vì bệnh mà không có thuốc chữa.
Thông thường, tù phải tự đốn cây, cắt tranh làm lán cho mình ở, phải phá
rừng, làm rẫy trồng trọt khoai củ nuôi thân. Nhà nước Cộng Sản không
phải tốn phí nuôi tù cải tạo. Ban ngày tù vào rừng lao động, chiều về,
vào lán, cán bộ coi tù khóa cửa lại, sáng hôm sau, mở cửa cho tù đi lao
động tiếp.
Mấy năm đầu, tù chết quá nhiều nên chính quyền Cộng Sản Việt Nam cho
thân nhân tù được gửi thuốc, áo quần (giới hạn) bằng đường bưu điện, về
sau được thăm nuôi, nghĩa là được gặp mặt tù và tiếp tế lương thực, mùng
mền, thuốc men... giúp tù chịu đựng, tiếp tục khai phá núi rừng và chết
chậm hơn.
Trong chuyện này, tôi không kể về những sinh hoạt trong nhà tù mà kể về
một anh bạn tù nằm cạnh tôi. Anh Hùng, (nằm cạnh tôi) là người ít nói
nhưng thường quan tâm đến người khác. Buổi tối, vào lán, thấy ai có vẻ
trầm tư, suy nghĩ, là anh sà đến, nói huyên thiên những chuyện trên trời
dưới đất, chuyện nào cũng khiến người nghe bật cười. Thế là người bạn đó
bớt buồn. Khi quay về, anh bảo tôi:
- Khá rồi! Lo buồn làm mình suy sụp nhanh nhất. Nhanh hơn cả bệnh hoạn.
Chỉ cần mất ngủ vài ba đêm là không đủ sức gượng dậy.
Ai cũng biết điều đó, nhưng rất khó vượt qua, nhất là những người không
được thăm nuôi, thậm chí không nhận được thư của thân nhân gửi vào. Họ
được gọi là "con bà xơ" (nữ tu), ý nói là con hoang trong trại mồ côi do
các bà xơ (soeurs) nuôi dưỡng. Các tù nhân con bà xơ này, mỗi khi thấy
người nào ra thăm thân nhân, đem đồ tiếp tế vào là họ tránh chỗ khác,
tìm những người cùng hoàn cảnh (không có thăm nuôi) mà chuyện trò, ăn
mấy củ khoai, củ sắn với nhau. Được tặng thức ăn (thăm nuôi) họ có thể
nhận một lần, lần sau thì từ chối.
- Xin cám ơn anh, tôi nhận thì không có gì tặng lại. Anh thông cảm cho
tôi. Xin giữ lấy.
Trong tù, chỉ nghĩ đến miếng thịt, cây kẹo cũng đủ chảy nước miếng, vì
cơ thể quá cần, nhưng nhận chút thực phẩm của bạn cho, lấy gì trả lại?
Tôi với anh Hùng, may mắn, được vợ thăm nuôi, dù cả năm chỉ được một lần
và chỉ được một xách nhỏ. Một gói đường tán đen, gói cá khô, ít đậu và
gạo, ít thuốc men, chỉ vậy thôi, vì tiền xe cộ đi hàng nghìn cây số (từ
miền Nam ra núi rừng tây bắc), ăn uống dọc đường... hết cả! Chúng tôi
nghèo quá, nhưng vợ chồng gặp mặt nhau là may rồi. Tôi mừng, nhưng anh
Hùng lại mừng hơn. Lần thăm nuôi nào anh cũng bảo.
- Đây là lần chót!
Thế nên, mỗi khi được gọi tên ra gặp thân nhân thì anh ngạc nhiên.
- Ai thăm tôi? Bà cụ thì quá yếu, không đi nổi!
Tôi cười bảo.
- Không phải vợ thì ai vào đây?
Theo vợ tôi kể, trong một lá thư gửi cho tôi, chỉ một lần vợ tôi cùng đi
thăm nuôi với vợ anh Hùng mà hai người thành bạn thân. Cả hai đều ở
trong một con hẻm vùng Đa Kao lại có chồng là bạn nằm cạnh nhau trong
tù, cùng hoàn cảnh nên hai người đàn bà thương nhau, thường giúp đỡ nhau
trong việc buôn bán mưu sinh. Vì thấy anh vui hơi quá đáng mỗi khi được
thăm nuôi nên tôi tò mò, cố tìm hiểu vì sao? Đúng ra, trong tù không nên
biết chuyện gia đình người khác, nếu người đó không tự ý kể ra. Tôi
không nhớ mình đã gợi ý cách nào khiến cho anh Hùng kể chuyện vợ con của
anh. Sau đây là câu chuyện theo lời Anh kể:
- Tôi là con trai độc nhất của bà cụ tôi. Đúng hơn, tôi là độc đinh của
cả giòng họ nhà tôi. Nếu mẹ tôi không sinh ra tôi thì coi như họ Hoàng
Đắc của tôi tuyệt tự. Mẹ tôi săn sóc, chăm lo cho tôi, vì tình thương mà
cũng vì trách nhiệm bên nhà chồng giao phó, là phải có người thừa tự, lo
nhang khói, cúng giỗ để vong linh ông bà, tổ tiên khỏi bơ vơ, thành ma
đói, ma khát, vất vưởng trong cõi u minh. Thế nên, khi tôi vừa xong tú
tài là mẹ tôi lo tìm vợ cho tôi, vì bà sợ tôi vào quân đội, không biết
chết lúc nào, sẽ không kịp có con trai để nối dõi tông đường. Tôi thì
không để ý đến chuyện đó. Ngay trong thời đi học, bạn bè yêu cô này, cô
kia, tôi chỉ biết bài vở và các môn thể thao như đá banh, học võ....
Đến khi thi xong tú tài một, tôi tình nguyện đi sĩ quan Thủ Đức. Mẹ tôi,
thời trẻ là đảng viên một đảng phái Quốc Gia, thông hiểu tình hình đất
nước, bà cụ bảo tôi "Khi tổ quốc lâm nguy, làm con dân phải có bổn phận
cùng với mọi người bảo vệ đất nước, bảo vệ đồng bào. Những tên trốn
lính, sống chui, sống nhủi chỉ thêm nhục. Nhưng con phải lấy vợ, sinh
con trai để sau này lo nhang khói cho ông bà, tổ tiên". Mẹ tôi hỏi tôi
có để ý cô nào chưa? Tôi thưa rằng "Mẹ xem cô nào vừa ý mẹ thì cưới cho
con chứ con không có người yêu". Mẹ tôi đến nhà các bà bạn, ngắm nghía
cô này, dọ hỏi cô kia, cuối cùng bà chọn được một cô. Mẹ tôi nhờ người
mai mối, gia đình cô ta đồng ý ngay. Để tôi được gặp cô gái, mẹ tôi mua
một ít trái cây, sai tôi đem đến biếu gia đình cô ta. Hình như cô gái
không biết có sự xếp đặt giữa hai gia đình nên cô ta tiếp tôi rất hồn
nhiên, vô tư như với bạn bè. Tôi thấy cô cũng xinh, hiền lành, vui vẻ
nên về thưa với mẹ tôi rằng "Mẹ thấy vừa ý thì con xin vâng lời". Quả
thật, cô gái hoàn toàn không biết gì về việc cô sẽ là vợ tôi. Trước ngày
tôi vào quân trường, hai gia đình muốn tổ chức lễ hỏi [và lễ] cưới luôn
một lần. Lúc đó, cô gái mới được thông báo. Cô ta phản đối quyết liệt.
Hóa ra cô đã có người yêu. Sau này tôi mới biết, người cô yêu là một nhà
thơ. Anh chàng có dị tật ở chân nên anh ta khỏi phải đi lính. Nhờ thế
anh ta yên tâm vui chơi và ăn bám gia đình. Hết làm thơ đăng báo tán
tỉnh cô này, cô kia thì la cà các quán cà phê, quán nhậu. Con gái mới
lớn, cô nào cũng mơ mộng. Anh chàng thi sĩ này làm thơ ca tụng, tỏ tình
với cô vợ tương lai của tôi thì chẳng khác gì bỏ bùa cô ta. Cô ta yêu mê
mệt chàng thi sĩ, quyết cùng chàng "Một túp lều tranh hai quả tim vàng".
Bất ngờ cô bị ép phải lấy tôi làm chồng. Cô tuyên bố thẳng thừng với cha
mẹ rằng cô ta sẽ trốn đi với chàng thi sĩ, nếu không trốn được mà bị ép
duyên, cô ta sẽ uống thuốc rầy tự tử. Gia đình cô ta hình như có xích
mích gì đó với gia đình "nhà thơ" nên không muốn làm sui gia với họ. Thế
nên bà mẹ mới bảo với con gái rằng "Mày muốn trốn theo trai thì cứ trốn
đi, nhưng không được theo thằng chó chết của nhà đó. Nếu mày theo nó,
thì nhớ ba ngày sau quay về dự đám ma tao. Còn mày muốn tự tử thì tao
mua cho mày chai thuốc rầy, nhưng uống nửa chai thôi, để một nửa cho
tao. Nuôi mày khôn lớn để mày làm nhục cha mẹ...." Lời tuyên bố đó khiến
cô gái không còn lựa chọn nào khác. Thế nên, trước ngày cưới, cô ta hẹn
tôi ra một quán nước. Sáng đó, chúng tôi gặp nhau. Tôi ngồi đối diện.
Quán vắng người nên cô ta chẳng cần giữ lời, tấn công tôi ngay: "Tôi và
anh không hề quen biết nhau, không thù oán nhau, tại sao anh cố tình phá
vỡ tình yêu của chúng tôi? Anh có biết, vợ chồng không có tình yêu mà
sống với nhau là sống trong địa ngục không?"
Tôi trả lời "Đây là chuyện hai gia đình với nhau. Cô không bằng lòng lấy
tôi thì cứ nói thẳng với ba mẹ cô hoặc nói với mẹ tôi. Tôi không có ý
kiến. Tôi không cần vợ, nhưng mẹ tôi cần có cháu nội trai để nối dõi
tông đường. Tôi sẽ vào quân đội. Chiến tranh rất ác liệt. Đời lính
chiến, hành quân liên miên, cưới cô về, được bao nhiêu lần chúng ta gặp
nhau? Để có con, còn khó hơn. Và có thể một ngày, một tuần, một tháng
sau đó, tôi tử trận. Cô sẽ thành quả phụ. Nhanh lắm. Tôi nói sự thật để
cô đủ lý do từ chối việc cầu hôn của tôi." Cô yên lặng lắng nghe. Tôi
cũng suy nghĩ, lựa lời một lúc mới nói tiếp: "Nếu bị ép duyên, và nếu
không còn con đường nào khác để làm vui lòng cha mẹ cô, cô nên lấy tôi.
Vì sau khi ra trường sĩ quan, tôi sẽ chọn binh chủng tác chiến, tôi sẽ
leo lên bàn thờ nhanh lắm. Khi tôi chết rồi, gia đình cô không còn quyền
cấm cô về sống với người cô yêu. Mà dù tôi chưa tử trận, khó khăn của
tôi vẫn là phải có con trai cho mẹ tôi an tâm. Tôi đề nghị thế này. Sau
khi là vợ tôi, dĩ nhiên là tôi đi hành quân, đâu có về nhà thường xuyên
được.... Cô cứ hẹn hò với người yêu, miễn sao đừng cho thiên hạ biết,
khi nào có bầu, cô ra đơn vị tìm tôi rồi quay về nhà. Mục đích để hợp
thức hóa đứa bé trong bụng cô. Tôi sẽ không ghen tương gì mà mẹ tôi lại
mừng vì đã làm tròn bổn phận đối với gia tộc tôi...." Chưa nghe hết câu,
cô chồm qua bàn, thẳng tay tát tôi một tát tai, nảy đom đóm mắt. "Tôi
cấm anh không được nhục mạ tôi theo lối nói vô học đó. Anh xem tôi là
hạng người gì?" Rồi cô ôm mặt, gục xuống bàn khóc nức nở. Cô khóc to,
như rống lên rồi lấy khăn bịt miệng mình lại để tự kềm chế. Tôi kinh
hoàng, vội qua ngồi cạnh cô, lắp bắp "Tôi xin lỗi! Tôi xin lỗi! Cô tha
thứ cho tôi" Tôi định choàng tay qua vai cô để vỗ về thì cô xô mạnh tôi
ra, khiến tôi suýt ngã ngửa. Cô cứ cúi đầu thút thít mãi. Tôi chán nản,
nghĩ rằng, tốt nhất về thưa với mẹ tôi rút lui vụ cưới hỏi này để khỏi
rắc rối, có khi gây oán thù với cô ta và cả người tình của cô nữa.
Tôi đứng lên, đến quày trả tiền. Cô chủ quán hỏi tôi "Có chuyện gì vậy?"
Tôi lắc đầu, quay lại bàn nước, ngồi cạnh cô để tránh tia mắt cô đang
nhìn đăm đăm phía trước như người xuất hồn. Tôi nói "Tôi đã hiểu cô, đã
biết mối tình của cô. Xin cô yên tâm. Tôi sẽ báo cho mẹ tôi hủy bỏ vụ
này. Cô được tự do". Tôi định đứng lên thì cô ra dấu tôi ngồi xuống. Cô
nói mà không nhìn tôi "Anh chẳng có lỗi gì trong chuyện này. Gia đình
tôi nhất quyết gả tôi cho người khác. Ai cũng được, ngoại trừ người tôi
yêu." Rồi cô quay nhìn tôi, mắt long lên, môi mím lại "Tôi đồng ý lấy
anh. Nhưng tôi cho anh biết. Anh chiếm đoạt được trinh tiết của tôi,
chiếm đoạt được thân xác tôi nhưng không thể chiếm đoạt được trái tim
tôi. Đừng hi vọng tôi sẽ thương yêu anh. Tôi không thù anh, nhưng tôi
không thể yêu thương ai ngoài người tôi yêu. Tôi cũng cho anh biết trước
rằng, về làm vợ anh, dù đến mãn đời, tôi thề sẽ không bao giờ nói tiếng
yêu thương với anh, không bao giờ hôn anh. Mong anh cũng làm như thế."
Tôi giận sôi gan, nhưng cố bình tĩnh "Tôi sẽ giữ lời. Tôi thề sẽ không
nói thương yêu với cô, không hôn cô, vì tôi biết chúng ta chẳng hề yêu
thương nhau. Tôi cũng yêu cầu cô nhớ lời thề đó. Sau này, nếu tôi tử
trận, xin cô đừng giả vờ khóc, vì tôi biết đó là ngày vui của cô, ngày
cô được giải thoát để về với người cô yêu. Không cưới cô thì mẹ tôi cũng
tìm một cô khác cho tôi. Từ hôm nay cho đến tuần sau, cô có thể báo cho
mẹ tôi biết quyết định của cô. Mà dù đã là vợ tôi, cô vẫn tự do. Cô có
thể gặp người yêu của cô bất cứ lúc nào, chỉ mong cô cố gắng cho mẹ tôi
một đứa cháu trai. Xin cô giúp tôi".
Kể đến đấy anh Hùng hỏi tôi: "Nếu vào trường hợp tôi, anh sẽ nghĩ sao?
Chúng tôi có ba mặt con với nhau, nhưng không bao giờ tôi nghĩ rằng cô
ta còn lưu lại trong gia đình tôi cho đến ngày tôi vô tù như hôm nay".
Anh quay ra sau, lục trong xách nhỏ, lấy ra mấy tấm hình, trao cho tôi:
"Anh nhìn xem, mấy đứa nhỏ này giống ai?" Tôi nhìn và nói ngay "Giống
anh chứ giống ai? Con anh phải không? Hai thằng nhỏ này là anh em sinh
đôi?" Anh trầm tư "Để tôi dài dòng một chút. Trước khi vào quân trường,
tôi cưới vợ. Khi còn đang thụ huấn trong Thủ Đức, được tin vợ sinh, tôi
về phép, vào nhà bảo sanh. Vợ tôi sinh con gái. Tôi ôm đứa bé vào lòng.
Lúc đó, tôi không thắc mắc, ai là tác giả của sinh vật bé bỏng đó, nhưng
không hiểu sao, tôi thương nó quá. Tôi ngắm nghía nó, hôn nó, thì thầm
với nó mà quên cả chung quanh. Lúc đặt con xuống bên cạnh vợ, cô ta nắm
lấy bàn tay tôi, nhìn tôi, nước mắt ứa ra. Cô ta khóc. Tôi hiểu ý nên
nói "Xin lỗi! Nhưng tôi thương nó. Lần sau, cố giúp tôi một thằng con
trai..."
Tôi ngắt lời anh "Bộ hai người xưng tôi chứ không anh em gì cả sao?" "Cô
thì xưng em với tôi, còn tôi, khi chán nản hoặc chỉ có hai người, tôi
xưng "tôi" và nói trống không. Khi có người thứ ba thì tôi "anh, em" như
vợ chồng bình thường.... Sau đó, cô sinh đôi, hai thằng con trai. Khi
tôi đi tù thì hai thằng con được gần hai tuổi.
- Hai anh chị thề thốt với nhau rằng sẽ không hôn, không nói tiếng yêu
thương với nhau, rồi có giữ lời không?
- Tôi có vợ mà tâm lý không giống những ông khác. Tôi chỉ làm bổn phận.
Tôi đâu cần tình yêu mới làm chuyện vợ chồng được. Khi cô ta vừa sinh
hai thằng con trai, tôi dự định, hễ hai đứa nhỏ cứng cáp thì tôi sẽ nói
với cô rằng muốn li dị thì tôi ký tên ngay để cô được tự do, nhưng tôi
chưa kịp nói thì đi tù. Thế nên, mỗi khi tôi được gọi ra thăm nuôi, anh
thường nghe tôi tự hỏi "Ai thăm nuôi mình?" vì tôi cứ đinh ninh là cô ta
đã bỏ tôi để về với người tình, để khỏi nuôi mấy đứa nhỏ, khỏi nuôi mẹ
tôi, khỏi thăm nuôi tôi.
- Anh có thể nói thật tình cảm của anh đối với vợ anh cho tôi nghe được
không? Anh có thương vợ không?
Anh trầm ngâm.
- Chỉ sau này, khi tôi vào tù, cô ta không bỏ chúng tôi, lại phải vất
vả, bươn chải để nuôi sống bao nhiêu người trong gia đình tôi, tôi mới
nghĩ rằng cô là vợ tôi. Nếu chúng tôi có yêu nhau trước đó thì sự hi
sinh của cô ta còn có chút ý nghĩa. Đằng này... không ai có thể bắt cô
phải cưu mang chúng tôi. Đó là sự bất công. Trước kia, tôi không màng
đến ý nghĩ, tình cảm của vợ tôi. Chúng tôi ít nói chuyện với nhau. Đúng
ra là không có dịp. Tôi hành quân liên miên, vài ba tháng về phép một
lần. Hai mươi bốn giờ phép mà gần tối mới về đến nhà, sáng sớm lại phải
ra đơn vị. Vả lại, tôi thương các con tôi lắm. Vừa bước vô nhà, chào mẹ
tôi xong là tôi quấn quít với con, hôn hít đứa này, bồng ẵm đứa kia, đưa
chúng ra đường mua quà, kẹo bánh. Lần nào về phép tôi cũng ôm con mà cứ
nghĩ rằng, đây là lần cuối mình được gần các con. Ra trận, đạn như vãi
trấu, bạn bè, đồng đội tôi ngã xuống ngay bên cạnh. Trước sau gì cũng
đến lượt mình. Còn vợ tôi, tôi cảm tưởng như giữa hai đứa có một bức
tường vô hình ngăn cách, và cô ta, sinh con xong, bồng nó, đưa qua bức
tường vô hình đó, trao cho tôi. Chúng là con tôi. Vì ám ảnh đó mà mọi sự
săn sóc, lo lắng của cô dành cho tôi, tôi tưởng như của một cô bạn gái
cùng lớp giúp bạn trong một buổi đi chơi chung ngoài trời, vậy thôi. Mỗi
khi tôi về phép, thấy tôi bước vào nhà là cô vội lo nước nôi, khăn tắm,
áo quần để sẵn đó rồi chạy ra chợ mua thức ăn, chạy về, chui vào bếp,
nấu nướng, dọn lên. Ăn xong, lại dọn rửa, rồi giặt giũ áo quần cho tôi,
phơi phóng, sắp xếp, chuẩn bị mọi thứ trong xách để sáng sớm là tôi chỉ
việc đeo lên vai, về đơn vị. Cô xoay tròn như chong chóng. Tôi thì tắm
con, đút cơm cho chúng, rồi chơi đùa, kể chuyện cho chúng nghe, ru chúng
ngủ, không màng đến vợ, không nhìn đến mẹ. Người ngoài nhìn vô, đó là
một gia đình bình thường. Mẹ tôi thì vui lắm, cứ khen con dâu ngoan
hiền. Bà cụ không biết dĩ vãng của cô, cũng không thấy những đợt sóng
ngầm đang kiên trì, thì thầm gọi cô thoát ly. Bây giờ, ở tù kiểu này thì
chỉ có chết hoặc mục xương trong tù vì chẳng ai biết ngày về. Cái chết
đối với thằng lính chiến như tôi thì sá gì, nhưng tôi thương các con
quá, chỉ mong được về để lo cho chúng và săn sóc vợ tôi để đền đáp bao
khổ nhọc mà cô ta đã phải chịu đựng.
Từ khi nghe anh Hùng kể chuyện gia đình, tôi cũng đâm ra hồi hộp mỗi khi
nghe tên anh ta được gọi ra thăm nuôi. Tôi tưởng tượng mẹ anh Hùng hoặc
bà cụ nhờ một người nào đó gặp anh và báo tin rằng vợ anh đã bỏ đi lấy
chồng rồi. Nhưng lần nào cũng là chị ta. Lần đầu được giới thiệu là vợ
anh Hùng, tôi thấy chị ta, tuy đen và ốm, xác xơ vì sinh kế nhưng còn
phảng phất những nét thanh tú và quí phái. Chị ta, thời trẻ, ắt đã làm
bao trái tim bọn con trai xao xuyến. Mỗi lần ra thăm nuôi, anh Hùng,
tôi, và vài người tù ngồi một bên chiếc bàn dài, đối diện (bên kia bàn)
là thân nhân của tù. Đầu bàn có một công an ngồi theo dõi, lắng nghe tù
và thân nhân chuyện trò. Tù chỉ có mười lăm phút gặp người thân nên ai
cũng cố nói thật nhiều, hỏi thật nhiều những điều cần thiết. Tôi cũng
gấp rút chuyện trò với vợ nhưng cũng để ý xem vợ chồng anh Hùng có gì
khác thường không? Hình như anh Hùng không nhìn vợ mà hơi cúi xuống vẻ
đắn đo, suy nghĩ. Trái lại chị vợ ngồi nhìn chồng đăm đăm như thôi miên
anh ta. Thông thường, trong lúc gặp gỡ, người vợ để bàn tay bên hông của
giỏ quà thăm nuôi, phía khuất tia nhìn của công an, người chồng biết ý
sẽ để bàn tay mình lên bàn tay vợ, bóp nhẹ. Bao nhiêu năm xa cách, chỉ
cần chạm nhẹ hai bàn tay với nhau cũng đủ cho vợ chồng ngây ngất, rung
động cả thể xác và tâm hồn. Giây phút đó quí giá hơn bao nhiêu lần ôm ấp
nhau mà vợ chồng đã trải qua. Vợ anh Hùng cũng để tay bên giỏ thăm nuôi.
Anh Hùng chỉ đụng rất nhẹ vào tay vợ, như vô tình rồi rút tay về. Chị ta
vẫn để yên bàn tay và chờ đợi. Anh Hùng lại đụng nhẹ tay vợ lần nữa, rồi
lại rút về. Cả hai yên lặng. Rồi hình như anh nói nho nhỏ gì đó với vợ.
Thời gian thăm gặp qua rất nhanh. Lúc chia tay, anh Hùng xách gói quà
thăm nuôi đi thẳng mà không ngoái nhìn người thân như các tù nhân khác.
Chúng tôi ở tù trên mười năm nhưng chỉ ở chung lán trại hơn ba năm, sau
đó bị phân tán đi các trại tù khác. Dù vậy, tình bạn giữa chúng tôi đã
như ruột thịt. Bảy năm sau, chúng tôi mới gặp lại nhau ở trại tù Z30,
Xuân Lộc. Sau đó, chúng tôi cùng ra tù một lần, vào năm 1986. Chúng tôi,
hai thằng tù trung niên mà trông đã hom hem. Tóc đã có sợi bạc, chân tay
như những khúc xương khô. Vợ tôi và vợ anh Hùng, sau mười năm vất vả,
cũng đã là hai chị nạ dòng đen thui, đầu tóc, áo quần tả tơi vì suốt
ngày lê lết đầu đường xó chợ. Hai người mua đi bán lại từng đôi giày cũ,
áo quần cũ, răng vàng bạc vụn, đồng hồ hư, radio hư.... Nghĩa là ai bán
gì cũng mua, ai mua gì cũng có. Thời bấy giờ, tù về xã hội chỉ làm được
các nghề chân tay như đạp xích lô, bán vé số, vá xe đạp.... Tôi và anh
Hùng, mỗi người một chiếc bàn con, mỗi cạnh hai gang tay, đặt bên lề
đường, ngồi bán vé số, kiếm tiền phụ với vợ mua gạo. Lúc đó vợ tôi và vợ
anh Hùng mới lấy lại chút bình tĩnh, không còn lo thất sắc mỗi ngày vì
lũ con đói.
Đầu thập niên 1990, có chương trình tù cải tạo được đi Mỹ. Gia đình tôi
và gia đình anh Hùng đến cùng tiểu bang Virginia nhưng khác thành phố,
cách nhau hơn hai giờ lái xe. Bước chân đến xứ người với hai bàn tay
trắng, chúng tôi phải làm gấp đôi người khác, vì lao động chân tay,
lương hướng chẳng bao nhiêu. Sáng sớm đã ra khỏi nhà, khuya mới về.
Chúng tôi chỉ gọi điện thoại trò chuyện, hỏi han nhau mà thôi. Tôi không
còn để ý đến chuyện xưa của vợ chồng anh Hùng, cũng không bao giờ kể cho
vợ tôi nghe. Đàn bà bép xép, một chuyện kỳ lạ như thế thì không bà nào
để yên trong bụng được.
Hơn bảy năm ở xứ Mỹ, vài đứa con của gia đình tôi và gia đình anh Hùng
đã tốt nghiệp đại học, có việc làm, phụ với cha mẹ lo cho các em nên
chúng tôi đã bớt giờ làm việc, có dịp thăm viếng nhau. Bao nhiêu năm mới
gặp lại, thấy anh Hùng khỏe mạnh, hồng hào hơn trước, chị vợ cũng mập
tròn, mặt mũi tươi rói, gặp lại vợ tôi như gặp cố nhân, hai người tíu
tít hỏi han, chuyện trò vui vẻ. Nơi xứ người bơ vơ nên chúng tôi coi
nhau như anh em một nhà.
Đột nhiên, một buổi tối, khoảng mười giờ, điện thoại reo, vợ tôi bắt máy
rồi la lên.
- Sao? Chị nói sao? Anh Hùng bị gì mà đưa vô bệnh viện cấp cứu? Chị nói
chuyện với ông xã em. Em run quá!
Vợ tôi đưa điện thoại cho tôi.
- A lô! Anh Hùng bị gì vậy chị?
Bên kia đầu giây, giọng vợ anh Hùng hốt hoảng.
- Không hiểu sao. Ăn tối xong ảnh ngồi xem TV. Thình lình, ảnh kêu "Đau
đầu quá!" rồi gục xuống bất tỉnh. Em gọi xe cứu thương đến đưa vô bệnh
viện. Hiện em đang ở phòng cấp cứu. Ảnh chưa tỉnh. Em rối trí quá! Không
biết mình phải làm gì đây?
- Chị báo cho sắp nhỏ biết chưa?
- Dạ rồi. Nhưng đứa gần nhất cũng phải năm giờ lái xe, đứa ở xa, sáng
mai mới đi máy bay về.
- Ảnh không sao đâu. Chị bình tỉnh. Đưa vô bệnh viện là yên tâm. Tụi tôi
sẽ đến ngay bây giờ. Lên xe, chúng tôi sẽ nói chuyện sau. Nhớ là phải
bình tỉnh. Hai giờ nữa chúng tôi sẽ đến bệnh viện.
Ban đêm, xa lộ 95 không đến nỗi kẹt xe. Từ Richmond hướng về thành phố
Falls Church, phía bắc tiểu bang, gần hai giờ, chúng tôi đã có mặt tại
bệnh viện. Bệnh viện về đêm thật yên tĩnh. Theo sự hướng dẫn của nhân
viên trực, chúng tôi đi rất nhẹ dọc hành lang để tìm phòng hồi sức.
Anh Hùng nằm trên giường với đủ thứ dây nhợ, ống trợ thở nối với dàn máy
sát tường. Một cái máy điện tâm đồ với lằn sóng xanh chạy đều đều, yếu
ớt. Chị Hùng quì bên cạnh, nắm tay chồng, thì thầm.
- Anh cố gắng nghe em nói. Em chỉ nói một câu thôi. Em không nói được
cho anh nghe thì em đau khổ suốt đời, ân hận suốt đời. Anh có thương em
không? Thương em thì nghe em nói. Nghe anh! Tội nghiệp em mà anh....
Chúng tôi đứng bên cạnh mà chị vẫn không hay biết. Vợ tôi cúi xuống vỗ
nhẹ vai chị, chị quay lại, đứng lên, ôm vợ tôi, nước mắt trào ra.
- Ảnh không nghe em nói! Ảnh không biết gì nữa. Sao em ngu quá? Không
nói khi ảnh còn khỏe mạnh. Mà thình lình, ảnh bị như vầy....
Chị nói lảm nhảm như người mất trí. Vợ tôi không hiểu gì cả nhưng vẫn vỗ
về, nhỏ nhẹ.
- Ảnh không sao đâu. Em biết, nhiều người bị như vậy, sẽ tỉnh lại. Chị
đừng lo. Bác sĩ nói sao?
- Bác sĩ nói ảnh bị xuất huyết não, đang chuẩn bị, sẽ mổ ngay. Em sợ,
người ta mổ rồi ảnh đi luôn. Em mà không nói được cho ảnh nghe, chắc em
chết theo để linh hồn em được gặp ảnh, nói mấy lời....
Vợ tôi lại nhìn tôi, không hiểu chuyện gì quan trọng, khẩn cấp đến độ
phải nói ra cho người sắp chết nghe. Đáng ra, chính người bệnh mới cần
trăn trối trước khi từ giã cõi đời. Vợ tôi, biết rằng chuyện gia đình
người ta, không nên tò mò, chỉ trấn an.
- Sáng mai, mổ xong là ảnh tỉnh dậy, sẽ nghe chị nói. Chị yên tâm. Bình
tĩnh mà chuẩn bị tinh thần, cầu xin Trời Phật phù hộ ảnh tai qua nạn
khỏi.
Nhưng chị ta như không nghe, cứ lảm nhảm.
- Bao yêu thương, săn sóc ảnh giành cho em, em hiểu, em đón nhận, nhưng
sao em ngu quá, không nói cho ảnh biết em yêu thương ảnh....
Vợ tôi ngớ ra, tưởng chị điên thật rồi. Vợ chồng yêu thương nhau, đâu
cần phải nói ra mới hiểu? Chỉ mình tôi biết điều đó. Tôi nói với chị ta.
- Xin chị bình tĩnh. Tôi sẽ cố giúp chị xem sao. Tôi với anh Hùng thân
thiết còn hơn ruột thịt. Hy vọng, tôi nói ảnh sẽ nghe.
Nhìn điện tâm đồ, thấy những gợn sóng rất yếu ớt, tôi biết, có mổ cũng
rất ít hy vọng, nhưng tôi tin, sự sống trong anh ta vẫn còn. Tôi ra dấu
cho chị Hùng đến bên cạnh rồi cúi sát tai anh, nói chậm rãi.
- Tôi là Nguyễn Văn Chánh, bạn anh đây. Chúng ta ở tù chung, khi còn ở
bên Việt Nam, anh còn nhớ không? Anh cố gắng nghe tôi nói, một điều rất
quan trọng, sẽ giúp anh yên tâm.... Nếu anh nghe được, anh chấp nhận,
xin anh chuyển động mi mắt hoặc con ngươi của mắt anh. Vợ anh đang đứng
bên anh đây. Vợ anh nói rằng, chị chỉ yêu thương một người duy nhất
trong đời là anh mà thôi. Anh có nghe không, có chấp nhận không?
Mọi người im lặng, chăm chú nhìn đôi mắt đang nhắm nghiền của anh Hùng.
Đột nhiên, đôi mi của anh Hùng chuyển động như muốn mở ra rồi nhắm lại.
Tuy rất nhẹ nhưng mọi người đều thấy rõ. Chị Hùng ôm chồng khóc òa lên.
Tin rằng anh Hùng có nghe tiếng khóc của vợ nên một lúc sau tôi mới ra
dấu cho chị yên lặng, rồi nói vào tai anh Hùng.
- Bây giờ, vợ anh, chị Hùng sẽ nói cho anh nghe. Chị yêu thương anh từ
lúc nào. Anh cố gắng nghe vợ anh nói.
Tôi bước lùi cho chị Hùng quì xuống, cúi sát tai chồng và nói, từng
tiếng một.
- Anh Hùng. Anh là chồng em. Em yêu thương chỉ một mình anh. Em yêu
thương anh suốt đời. Em yêu thương anh từ ngày đầu, từ đêm đầu, từ giây
phút đầu em trở thành vợ anh.... Em lạy anh. Đừng giận em nghe anh! Xin
anh thương em. Em là vợ anh. Tội nghiệp em. Nghe anh!
Nói đến đó thì nghẹn lời, chị đứng lên lùi lại, hai tay để lên ngực, như
sợ chồng điều gì nhưng mắt vẫn không rời đôi mắt chồng. Mọi người nín
thở chờ đợi. Rồi đôi con ngươi dưới hai mi mắt nhắm nghiền của anh Hùng
chuyển động nhẹ, hướng về phía chị Hùng và dừng lại. Tôi nói với chị.
- Anh Hùng đã hiểu chị, đã chấp nhận lời yêu thương của chị.
Bỗng chị Hùng lảo đảo, níu tay vợ tôi rồi ngã quị xuống, bất tỉnh. Vợ
tôi đỡ lấy chị, ngồi bệt xuống sàn, ôm chị vào lòng. Tôi bảo vợ.
-Không sao đâu. Bị xúc động mạnh. Để anh đi gọi y tá....
Thật ra, là chị ấy đã trăn trối với chồng.
Phạm Thành Châu
Nguồn: Huỳnh Lương Thọ, K4-71/SQTB/TĐ,
ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH sưu tầm
![]()
Bấm vào đây để in ra giấy (Print)
![]()
PHẦN QUẢNG CÁO TÁC PHẨM
Một món qùa Xuân, qùa sinh nhật thanh
cao gửi đến bạn bè
Đã Phát Hành:
Ba tập truyện ngắn của Phạm Thành Châu
- Bức Họa Khỏa Thân (248 trang)
- Nhớ Huế (248 trang)
- Lý lẽ của trái tim (275 trang)
Giá mỗi tập 12.00USD (trong nước Mỹ)
Mua ba (3) tập trở lên, giá mỗi tập 10.00USD kể cả cước phí.
Gửi sách trước, trả tiền sau.
L/L: Phạm Thành Châu
7004 Beverly Lane
Springfield, VA 22150
Điện thoại (Phone) (703)569-0124 (571)480 - 3276) (c)
(xin để lại lời nhắn)
Đăng ngày Chúa Nhật, MAY 22nd, 2011
Ban Kỹ Thuật K10A-72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH