Bấm vào đây để in ra giấy (Print)
Lời Tác
Giả: Bài viết sau đây có mục đích làm sáng tỏ chính nghĩa của
Quân lực Việt Nam Cộng Hòa trong suốt giai đoạn lịch sử bi tráng vừa qua
của cuộc Chiến Tranh Việt Nam, khẳng định rằng chế độ quân nhân tại Việt
Nam Cộng Hòa là nhu cầu tất yếu của lịch sử, là lẽ sống còn của một đất
nước đang đấu tranh cho sự sống còn của mình và chỉ là một hiện tượng
tạm thời chứ không mang tính lâu dài. Và dĩ nhiên là chế độ quân nhân
cai trị tại miền Nam Việt Nam không hề là chế độ quân trị (military
rule) hay chế độ quân phiệt (militarism).
Có thể nói rằng, so sánh với các quân
đội khác trên toàn thế giới thời cận đại, Quân lực Việt Nam Cộng Hòa,
trong gần hết thời gian có cuộc Chiến Tranh Việt Nam (1960-1975), là lực
lượng quân sự duy nhất mang trên vai hai trọng trách cùng một lúc: bảo
vệ an ninh quốc gia và quản trị hành chánh đất nước.
Việc thực hiện cùng một lúc hai nhiệm vụ nặng nề này, tức là việc các
thành viên thuộc Quân lực Việt Nam Cộng Hòa vừa đánh giặc vừa trị nước,
có vẻ như đã đặt chế độ quân nhân (military regime) tại miền Nam Việt
Nam vào vị thế của những chế độ quân phiệt (militarism, militaristic
regime) cùng thời hay sau này trên khắp thế giới, đặc biệt là tại những
quốc gia kém mở mang ở Nam Mỹ (Argentina [Á Căn Ðình], Brazil [Ba Tây],
Chile [Chí Lợi], El Salvadore, Haiti, Nicaragua, Panama, Peru...), Á
Châu (Bangladesh [Ðông Hồi cũ], Indonesia [Nam Dương], Iraq, Myanmar
[Miến Ðiện cũ], Nam Hàn, Pakistan [Hồi Quốc, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ...)
hay Phi Châu (Algeria, Cộng Hòa Trung Phi, Congo- Brazaville và
Congo-Kinshasa, Ai Cập, Ethiopia, Ghana, Libya, Niger, Nigeria, Somalia,
Sudan, Uganda...) và ngay cả tại những quốc gia không Cộng sản và tân
tiến ở Âu Châu như Hy Lạp (1967-1974), Bồ Ðào Nha (1926-1974), và Tây
Ban Nha (1923-1975).
Nhưng sự thật thì không phải như vậy. Dù miền Nam Việt Nam luôn nằm
trong tình trạng chiến tranh, đất nước đã được Bộ Trưởng Quốc Phòng
Nguyễn Ðình Thuần thời Ðệ nhất Cộng Hòa tuyên bố nằm trong “tình trang
lâm nguy” từ năm 1963, chế độ quân nhân dưới quyền các sĩ quan cao cấp
trong Quân lực Việt Nam Cộng Hòa vẫn đem lại nhiều tự do, dân chủ hơn so
với các quốc gia cùng thời nằm dưới các chế độ quân phiệt trên toàn thế
giới và vẫn được đại đa số dân chúng kính trọng và thương yêu, đi đâu
theo đó, từ trong nước ra tới hải ngoại. Còn nếu có một số thành phần
dân chúng tại Việt Nam Cộng Hòa lên tiếng chỉ trích quân đội này trong
nhiệm vụ vừa chiến đấu vừa tham gia quản trị đất nước thì đó cũng chỉ là
chuyện bình thường trong một quốc gia thực sự có tự do, dân chủ. Riêng
trong hoàn cảnh đặc biệt của miền Nam Việt Nam, những lời chỉ trích nào
nhắm vào tập thể chiến sĩ Quân lực Việt Nam Cộng Hòa mà không nằm trong
xu hướng tự do, dân chủ tự nhiên kia của dân chúng thì đều phát xuất từ
luận điệu tuyên truyền của phe Cộng sản, mà vào lúc đó đang là kẻ thù nỗ
lực thôn tính miền Nam tự do, hay từ những lời chỉ trích đầy ác ý và
mang tính đạo đức giả của phe tả trên toàn thế giới chỉ mong sao Cộng
sản sớm chiến thắng tại Việt Nam rồi hậu quả ra sao thì cũng mặc kệ, bởi
vì chính dân chúng miền Nam Việt Nam, chứ không phải họ, là kẻ phải hứng
chịu tai họa, như thực tế đã chứng minh từ hơn ba thập niên qua, trong
khi họ thì bất quá chỉ việc chịu khó lên báo, lên đài đặng biểu tỏ lòng
ăn năn hối hận qua quýt cho việc làm xuẩn động của mình trước kia là
xong (như Joan Baez và cả Jane Fonda nữa đã làm, chứ John F. Kerry thì
chưa).
Vai trò vừa quân sự vừa hành chánh của Quân lực Việt Nam có tự
bao giờ?
Những người miền Nam Việt Nam trong nước cũng như ở hải ngoại, trước và
sau năm 1975 vẫn coi ngày 19 Tháng Sáu năm 1965, ngày Quân Lực của miền
Nam Việt Nam, là ngày tập thể chiến sĩ thuộc Quân lực Việt Nam Cộng Hòa
chính thức đảm nhiệm vai trò lịch sử điều khiển đất nước và chỉ huy nỗ
lực chiến đấu tự vệ của miền Nam tự do chống lại cuộc chiến tranh thôn
tính của Cộng sản Bắc Việt, có Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tại miền Nam
Việt Nam hỗ trợ. Sự thực thì thời điểm kể trên không phải là ngày quân
đội bắt đầu đảm đương cùng một lúc cả nhiệm vụ quân sự lẫn vai trò hành
chánh tại miền Nam Việt Nam mà chỉ là ngày mà tập thể chiến sĩ Việt Nam
Cộng Hòa chính thức lên nắm giữ vai trò đó qua buổi lễ ra mắt trước quốc
dân và quốc tế Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia (do Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu
làm chủ tịch) và Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (do Thiếu Tướng Nguyễn Cao
Kỳ làm chủ tịch) tại thủ đô Sài Gòn. (Trước đó, vào ngày 11 Tháng Sáu
năm 1965, Quốc Trưởng Việt Nam Cộng Hòa Phan Khắc Sửu và Thủ Tướng Phan
Huy Quát đã ra tuyên cáo “long trọng trao trả lại cho Quân Ðội Việt Nam
Cộng Hòa trách nhiệm và quyền hành lãnh đạo quốc gia đã được Hội Ðồng
Quân Lực ủy thác” cho chính quyền dân sự dưới quyền lãnh đạo của hai vị
chiếu theo quyết định ngày 5 Tháng Năm năm 1965, tức là cách đó hơn một
tháng)
Cái ngày mà giới quân nhân trong quân đội bắt đầu đảm đương cả nhiệm vụ
quân sự lẫn vai trò hành chánh tại miền Nam Việt Nam thật ra đã xảy ra
từ sáu, bảy năm trước đó, dưới thời Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, sau khi
Cộng sản Bắc Việt chính thức cho ra đời Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, 20
Tháng Mười Hai, năm 1960, để làm bình phong che đậy việc họ xua quân
quyết đánh chiếm miền Nam Việt Nam để đặt miền đất tự do này dưới quyền
cai trị độc tài của đảng Cộng sản Việt Nam. Trước tình hình Việt Cộng
(Mặt Trận Giải Phóng) ngày càng gia tăng các vụ ám sát viên chức xã, ấp
rồi đánh chiếm các làng mạc và cả các quận lỵ tại miền Nam Việt Nam,
Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, trong vai trò tổng tư lệnh quân đội chiếu theo
hiến pháp Ðệ nhất Cộng Hòa, đã phải thay thế các chức vụ Quận trưởng và
tỉnh trưởng tại những vùng chiến sự đang sôi động do các viên chức dân
sự (ngạch phó đốc sự hành chánh trở lên) đảm nhận sang cho các sĩ quan
quân đội, với các sĩ quan cấp Ðại úy đảm nhiệm chức vụ Quận trưởng và sĩ
quan cấp Ðại Tá làm tỉnh trưởng (vị Đại úy Quận trưởng danh tiếng nhất
thời đó là Đại úy Bùi Thụ, Quận trưởng Quế Sơn tại Quảng Nam, đã tử trận
sau khi ông tình nguyện ở lại tử thủ với vị Đại úy Quận trưởng kế nhiệm
trong đêm Việt Cộng tấn công tràn ngập quận lỵ Quế Sơn vào đầu năm 1962,
chỉ mấy tháng trước khi chính vị tổng tư lệnh quân đội bị quân đảo chánh
hạ sát). Phải biết rằng Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và bào đệ là Cố Vấn Ngô
Ðình Nhu rất cảnh giác trong chuyện trao cho giới quân nhân quyền hành
lớn trong một đất nước mà hai nhà lãnh đạo này đang muốn chuyển đổi từ
một quốc gia bất an về chính trị sau năm 1954 để trở thành một nền dân
chủ trẻ trung tại Ðông Nam Á. Nhưng chuyện chính quyền Ngô Ðình Diệm đã
phải chấp nhận giao quyền hành chính và quân sự cho giới quân nhân cho
thấy vai trò của quân đội từ những năm đầu thập niên 1960 đã trở nên vô
cùng thiết yếu cho sự sống còn của miền Nam tự do giữa lúc các lực lượng
Cộng sản từ miền Bắc đang gia tăng nỗ lực thôn tính Miền Nam. (1)
Cuộc đảo chánh chống chính quyền của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và bào đệ
là Cố Vấn Ngô Ðình Nhu vào ngày 1 Tháng Mười Một năm 1963 do Trung Tướng
Dương Văn (Big) Minh, người “anh hùng Rừng Sát” năm 1955, và các tướng
lãnh trong Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng thực hiện, có sự yểm trợ của
chính quyền Kennedy từ Hoa Kỳ thông qua Tòa Ðại Sứ Mỹ tại Việt Nam, và
những năm tháng sau đó có thể được coi là thời điểm duy nhất mà Quân Ðội
Việt Nam Cộng Hòa đã tóm thâu mọi quyền hành chánh và quân sự vào trong
tay họ và đặt Miền Nam Việt Nam dưới một chế độ quân trị (milirary rule)
mang tính cách quân phiệt (militarist) trong ý nghĩa đầy đủ nhất. Tình
thế hỗn quân, hỗn quan lúc bấy giờ tại Miền Nam Việt Nam (đảo chánh và
chỉnh lý liên tiếp ngay bên trong hàng ngũ các tướng lãnh đã lật đổ Tổng
Thống Diệm, với quyền lãnh đạo phe quân nhân cầm quyền từ tay Trung
Tướng Dương Văn Minh chuyển sang Trung Tướng Nguyễn Khánh rồi sau cùng
là Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu) cộng với các cuộc tấn công dồn dập về
mặt chính trị (Cộng sản xúi giục dân chúng biểu tình gây rối loạn trên
đường phố, tại các học đường và trong các chùa chiền...) và quân sự (với
những vụ ám sát các viên chức xã, ấp cùng những cuộc tấn công tràn ngập
các tiền đồn hẻo lánh, xã ấp riêng rẽ và cả những quận lỵ và tỉnh lỵ
phòng thủ yếu kém...) là động cơ chính yếu buộc Quân Ðội Việt Nam Cộng
Hòa phải nắm quyền cả về mặt quân sự lẫn mặt hành chánh.
Nhưng sau thời gian xáo trộn và náo loạn ngoài ý muốn của tất cả các
thành phần quân sự cũng như dân sự tại miền Nam Việt Nam, Quân Ðội Việt
Nam Cộng Hòa, ít nhất cũng đã một lần, chứng tỏ thiện chí muốn trao trả
quyền hành lại cho phe dân sự để dành thì giờ chiến đấu chống cuộc xâm
chiếm miền Nam Việt Nam của Cộng sản Bắc Việt từ Hà Nội (mà vào lúc đó
đã trở thành công khai với việc Cộng sản Bắc Việt thiết lập Ðường Mòn Hồ
Chí Minh chạy dọc theo sườn phía Tây của dãy Trường Sơn đặng đưa người
và vũ khí xâm nhập vào Nam, yểm trợ tối đa cho các lực lượng du kích của
Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam mở những cuộc tấn công quy mô vào các làng
mạc và thành thị tại Miền Nam Việt Nam). Ðó là vào ngày 5 Tháng Năm, năm
1965 khi Hội Ðồng Quân Lực (trước đó là Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng)
dưới quyền các tướng lãnh trong Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa đã trao quyền
cai trị đất nước về cho các chính trị gia thuộc phe dân sự tại Miền Nam
Việt Nam với một chính phủ dân sự dưới quyền Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu
và Thủ Tướng Phan Huy Quát. Ðiều không may là, phe dân sự tại Miền Nam
Việt Nam lúc bấy giờ, dù gồm nhiều chính trị gia nổi tiếng, nhiều chuyên
gia lỗi lạc, và nhiều nhà khoa bảng từ ngoại quốc trở về, đã không thể
nào vừa điều hành đất nước một cách hữu hiệu vừa bảo vệ sự toàn vẹn của
lãnh thổ, bởi vì tình trạng “thù trong, giặc ngoài” chẳng những đã không
giảm bớt mà ngày một gia tăng, với tình hình quân sự lúc đó được mô tả
là hết sức nguy ngập khi cường độ tấn công, phá hoại của Cộng quân tại
các địa phương đã gia tăng vượt ra ngoài tầm kiểm soát của chính quyền
và các lực lượng an ninh tại chỗ. Việc gì phải đến, đã đến. Sau mới ba
tháng đứng ra “lèo lái con thuyền quốc gia” mà không xong, vào ngày 11
Tháng Sáu năm 1965, phe dân sự, dưới quyền của Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu
và Thủ Tướng Phan Huy Quát, đành phải ra tuyên cáo trao trả lại quyền
cai trị đất nước lại cho Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa. (2)
Quân lực Việt Nam Cộng Hòa trong vai trò lãnh đạo đất nước chiến
đấu chống Cộng sản Bắc Việt xâm lược
Sau khi được trao quyền, vào ngày 12 Tháng Sáu năm 1963, trong một cuộc
họp quy tụ tất cả những tướng lãnh đang nắm các trọng trách trong quân
đội từ cấp Tổng Tham Mưu Trưởng, tư lệnh các Vùng Chiến Thuật cho đến
các tư lệnh quân, binh chủng, Hội Ðồng Quân Lực đã đề cử Trung Tướng
Nguyễn Văn Thiệu đảm nhiệm chức vụ Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia
(tương đương tổng thống), và Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ giữ chức vụ Chủ
Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (tương đương thủ tướng).
Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia, trong vai trò mới được giao, đã tiến hành
thiết lập thể chế và các cơ cấu quốc gia cùng lập nên một Nội Các Chiến
Tranh để thực hiện việc tiếp tục cuộc chiến đấu chống Cộng sản xâm lược
và phát triển đất nước.
Ngày 19 Tháng Sáu năm 1965, trong một buổi lễ ra mắt được long trọng tổ
chức tại thủ đô Sài Gòn, các thành phần trong Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia
và Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương đã tuyên thệ trung thành với tổ quốc,
nhận trách nhiệm làm thành phần tiền phương của quân, dân Miền Nam Việt
Nam trong vai trò chỉ huy Quân lực Việt Nam Cộng Hòa bảo vệ đất nước và
điều khiển chính phủ Việt Nam Cộng Hòa thực hiện các mục tiêu kinh tế,
xã hội, văn hóa, và giáo dục để xây dựng Miền Nam Việt Nam thành một
quốc gia phú cường có thể sánh vai cùng các quốc gia khác trong cộng
đồng thế giới.
Trong vai trò mới, Quân lực Việt Nam Cộng Hòa ở hậu phương thì lo xây
dựng nền độc lập, tự do và dân chủ, diệt trừ những mầm mống nằm vùng bạo
loạn và phát triển kinh tế, ngoài tiền tuyến thì chỉ huy quân đội ngăn
chống những đợt sóng xâm lăng của Cộng sản ngày càng mãnh liệt từ Miền
Bắc tràn vào. Như vậy, ngày 19 Tháng Sáu năm 1965 là ngày đánh dấu sự
kiện Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đứng lên gánh vác trách nhiệm lớn là bảo
vệ nền tự do và độc lập của Miền Nam Việt Nam đồng thời làm tiền đồn
ngăn chặn làn sóng Cộng sản tại Ðông Nam Á.
Nhưng giới lãnh đạo quân sự tại Miền Nam Việt Nam, tức Quân lực Việt Nam
Cộng Hòa, vì ý thức cao độ rằng cuộc chiến đấu tự vệ chống lại cuộc
chiến tranh xâm lược của Cộng sản từ ngoài Bắc vào không phải là một
cuộc chiến đơn thuần về quân sự mà là một trận chiến phối hợp giữa các
mặt trận quân sự và chính trị cũng như kinh tế, đồng thời còn cảnh giác
cao độ về vai trò sinh tử của một chế độ tự do, dân chủ tại Miền Nam
Việt Nam trong cuộc chiến tranh một mất, một còn với phe Cộng sản quốc
tế, đã phải tìm cách chuyển đổi chế độ hội đồng quân nhân cầm quyền
(military junta) hiện có sang một thể chế dân chủ hợp hiến và hợp pháp
mới mong nâng cao uy tín của Việt Nam Cộng Hòa trên trường quốc tế.
Từ 1966 tới 1967, mặc dù chiến sự vẫn tiếp tục diễn ra vô cùng ác liệt
trên kắp các mặt trận tại Miền Nam Việt Nam, với sự can dự trực tiếp của
quân đội Hoa Kỳ và các lực lượng Ðồng Minh như Ðại Hàn, Úc Ðại Lợi, Tân
Tây Lan, và Thái Lan, chính quyền Miền Nam Việt Nam dưới quyền của các
Tướng Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ, với sự hỗ trợ của chính phủ,
dân chúng, và quân đội Ðồng Minh Hoa Kỳ, quyết tâm tổ chức các cuộc
tuyển cử tự do để thành lập nền Ðệ nhị Cộng Hòa thay thế cho nền Ðệ nhất
Cộng Hòa của cố Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đã cáo chung sau cuộc đảo chánh
đẫm máu năm 1963.
Với các chủ trương và đường lối đúng đắn đó, lần lượt các cuộc bầu cử
tổng thống, Quốc Hội, và hội đồng tỉnh, thành được mở ra trên toàn lãnh
thổ Việt Nam Cộng Hòa để bầu ra, trước hết, một Quốc Hội, rồi sau đó là
một vị tổng thống dân cử đầu tiên của nền Ðệ nhị Cộng Hòa. Trong nền Ðệ
nhị Cộng Hòa của Miền Nam Việt Nam, mặc dù các chức vụ quan trọng như
tổng thống, bộ trưởng quốc phòng, tư lệnh cảnh sát, đại biểu chính phủ
tại các vùng chiến thuật, tỉnh trưởng, và Quận trưởng... đều do giới
quân nhân nắm giữ, nhưng nhờ có bộ mặt dân sự hợp pháp và hợp hiến, nước
Việt Nam Cộng Hòa mới thời hậu Tổng Thống Diệm đã lần lượt có được sự
thừa nhận của nhiều quốc gia thân hữu trên trường quốc tế, trong đó phải
kể tới một số nước Ả Rập mà tiêu biểu là Vương Quốc Ả Rập Saudi kiên
quyết chống Cộng ở Trung Ðông.
Tháng Mười Một năm 1967, sau khi đắc cử vào chức vụ tổng thống đầu tiên
của Ðệ nhị Cộng Hòa, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, trong vai trò tổng
thống kiêm tổng tư lệnh quân đội, tiếp tục cho tổ chức trọng thể lễ kỷ
niệm hàng năm Ngày Quân Lực 19 Tháng Sáu với những cuộc diễn binh của
tất cả các đơn vị và quân, binh chủng trong Quân lực Việt Nam Cộng Hòa
để biểu dương sức mạnh và ý chí quyết thắng của dân chúng Miền Nam Việt
Nam chống lại cuộc xâm lược kéo dài của Cộng sản Bắc Việt từ miền Bắc
vào. Trong khi đó, tiến trình dân chủ hóa Miền Nam Việt Nam vẫn đều đặn
diễn ra, với những cuộc bầu cử từ tổng thống cùng phó tổng thống và các
đại biểu lưỡng viện Quốc Hội cho tới các nghị viên hội đồng thành phố và
tỉnh trên toàn cõi Miền Nam Việt Nam. Cho dù Miền Nam Việt Nam vẫn đang
đắm chìm trong khói lửa chiến chinh, với những trận chiến ác liệt như
chiến dịch bắc phạt của Không Lực Việt Nam Cộng Hòa (1966-1967), cuộc
tổng tấn công Tết Mậu Thân của Cộng sản (1968), cuộc hành quân đánh sang
Căm Bốt của Quân Ðoàn 3 (1970), cuộc hành quân của Quân Lực Việt Nam
Cộng Hòa đánh sang Hạ Lào (1971), cuộc tổng tấn công của Cộng sản vào
Mùa Hè Ðỏ Lửa (1972), cuộc không tập và phong tỏa Bắc Việt của Hoa Kỳ
vào Giáng Sinh 1972... và với những biến cố chính trị lớn lao như cuộc
Hòa Ðàm Ba Lê (1968-1972), việc ký kết Hiệp Ðịnh Ba Lê 1973, cuộc trao
trả tù binh các bên lâm chiến (1973), những vụ Cộng sản lấn đất, giành
dân, vi phạm hiệp Ðịnh Ba Lê mà cao điểm là cuộc tấn công đánh chiếm
Phước Long (1974)... tiến trình dân chủ hóa Miền Nam Việt Nam đã diễn ra
khá tốt đẹp dưới quyền lãnh đạo của một chính quyền mà đa số các giới
chức cao cấp đều là sĩ quan hiện dịch trong quân đội hoặc có gốc nhà
binh.
Mấy ai có thể tưởng nghĩ được rằng, vào năm tồn tại cuối cùng của mình
là 1975, guồng máy chính quyền Miền Nam Việt Nam, tuy do các “chính trị
gia” gốc quân nhân lãnh đạo, lại có thể bao gồm một quốc hội với sự hiện
diện của không ít các nghị sĩ và dân biểu đối lập (như Nguyễn Văn Huyền,
Vũ Văn Mẫu, Trần Văn Ðôn, Lý Quý Chung...) và vô số các đảng phái cũng
như chính trị gia đối lập (cỡ Linh Mục Trần Hữu Thanh và nhà báo Ngô
Công Ðức) ngày đêm chỉ trích và “mắng mỏ” từ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu
cho tới Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm và Phụ Tá An Ninh Tổng Thống là Trung
Tướng Ðặng Văn Quang?
Quân lực Việt Nam Cộng Hòa vừa đánh giặc vừa tham chính
Vào ngày 26 Tháng Mười năm 1956, chính phủ Ngô Ðình Diệm khởi sự tái tổ
chức các lực lượng thuộc Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam được thành lập từ
lúc Quốc Gia Việt Nam (Eùtat du Vietnam) ra đời ngày 8 Tháng Ba năm 1949
theo Thỏa Hiệp Eùlysée giữa Pháp và Việt Nam, và quân đội này mang danh
xưng mới là Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa. Các lực lượng chiến đấu trên
không và trên biển được gọi là Không quân Việt Nam và Hải quân Việt Nam.
Trong những năm tháng đầu của cuộc Chiến Tranh Việt Nam, đối tượng giao
tranh của quân đội này là các lực lượng du kích thuộc Mặt Trận Dân Tộc
Giải Phóng Miền Nam Việt Nam, một tổ chức bung xung được Cộng sản Bắc
Việt dựng lên vào Tháng Mười Hai năm 1960 và được dùng làm công cụ xúc
tiến việc lật đổ chính quyền Ngô Ðình Diệm và đánh chiếm Miền Nam tự do
bằng vũ lực cho ra cái điều là chính dân chúng tại Miền Nam Việt Nam đã
tự mình nổi dậy chống lại chính phủ của Tổng Thống Diệm, mà Cộng sản vẫn
coi là bù nhìn của Mỹ, chứ không phải là do quân Cộng sản từ ngoài Bắc
tiến vào tấn công, vì làm như vậy là vi phạm nặng nề Hiệp Ðịnh Genève
1954 về “chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình tại Ðông Dương” mà chính
phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Cộng sản Bắc Việt) của ông Hồ Chí Minh đã
ký kết.
Dưới thời Tổng Thống Mỹ John F. Kennedy, nhiều cố vấn quân sự và một số
đáng kể kinh viện và quân viện của Hoa Kỳ đã được đổ vào Miền Nam Việt
Nam để yểm trợ cho chính phủ và Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa trong nỗ lực
tiễu trừ du kích quân Cộng sản, thường được gọi là Việt Cộng, cùng với
quân chính quy Bắc Việt từ Miền Bắc xâm nhập vào đánh phá Miền Nam. Có
thể nói rằng vai trò vừa đánh giặc, tức là chiến đấu chống quân Cộng sản
Bắc Việt xâm lược, và vừa tham chính, tức là tham gia công cuộc quản trị
guồng máy hành chánh đất nước, của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã khởi
đầu kể từ cuộc đảo chánh của quân đội, vào ngày 1 Tháng Mười Một năm
1963, lật đổ nền Ðệ nhất Cộng Hòa của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, rồi lên
cao điểm vào ngày 19 Tháng Sáu, là Ngày Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, khi
chính quyền dân sự trao trách nhiệm lãnh đạo đất nước cho quân đội, và
còn tiếp tục dưới hình thức quân đội tham chính trong các chính phủ dân
sự thời Ðệ nhị Cộng Hòa.
Những xáo trộn chính trị xảy ra tại Miền Nam Việt Nam sau cuộc đảo chánh
và lật đổ Tổng Thống Diệm đã làm lung lay gần như tận gốc rễ cấu trúc xã
hội tại Miền Nam Việt Nam sau chín năm dài miền đất này được sống trong
ổn định về kinh tế và tương đối an ninh vì chính quyền cũng như quân đội
còn đang kiểm soát được đất nước. Giờ đây, nương vào những xáo trộn này,
Cộng sản Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam liền gia tăng các cuộc
tấn công, phá hoại tại Miền Nam Việt Nam, khởi đầu là những vụ tấn công
vào các đồn bót và tiền đồn hẻo lánh tại các vùng quê, kèm theo là những
vụ ám sát các viên chức xã, ấp, sau lan dần tới việc Cộng quân dùng
những đơn vị lớn đánh úp hoặc chiếm đóng các quận lỵ (chi khu) và tỉnh
lỵ (tiểu khu) trên bốn vùng chiến thuật của Miền Nam Việt Nam. Các cuộc
đảo chánh và phản đảo chánh, mà Tướng Nguyễn Khánh gọi là “chỉnh lý”,
cùng những cuộc biểu tình “hoan hô, đả đảo” do các giáo phái và các phe
nhóm chính trị khác nhau, hầu hết đều có sự giật dây của Cộng sản để thủ
lợi, liên tục xảy ra khiến tình hình quân sự tại Miền Nam Việt Nam ngày
càng suy đồi, kéo theo nạn kinh tế khủng hoảng, vật giá gia tăng không
kềm chế nổi, giáo dục học đường chểnh mảng, thế đạo ngã nghiêng, nhân
tâm ly tán.... Vào cuối năm 1964, tức là chỉ một năm sau cuộc đảo chánh,
Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa, đang nắm quyền điều khiển guồng máy hành
chánh và quân sự trong nước, cũng đã thật sự phải đối diện với nguy cơ
sụp đổ trước các cuộc tấn công gia tăng ác liệt của Cộng quân. Các bản
tin chiến sự lúc bấy giờ cho hay Cộng quân, lợi dụng tình trạng hỗn
quan, hỗn quân tại Miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ, đã gia tăng các cuộc
tấn công lấn chiếm trên toàn quốc, khiến cho lãnh thổ quốc gia tại Miền
Nam Việt Nam ngày càng bị thu hẹp, với nhịp độ thất thủ có lúc lên đến
chóng mặt là mỗi tuần mất đi một quân lỵ và mỗi tháng mất đi một tỉnh
lỵ.
Tháng Ba năm 1965, trước nguy cơ chẳng sớm thì muộn Miền Nam Việt Nam có
thể mất vào tay Cộng sản, chính quyền của Tổng Thống Lyndon Johnson,
nhân vật kế nhiệm Tổng Thống Kennedy bị ám sát hồi Tháng Mười Một năm
1963, đã phải quyết định “Mỹ hóa” cuộc chiến tranh tại Việt Nam bằng
cách đổ hằng trăm nghìn quân Mỹ vào Miền Nam Việt Nam, thiết lập các căn
cứ quân sự, đồn bót, phi trường, và hải cảng trên toàn lãnh thổ Việt Nam
Cộng Hòa và mở những cuộc hành quân lớn “lùng và diệt” các lực lượng du
kích địa phương và chính quy xâm nhập từ Miền Bắc vào Miền Nam. Các đơn
vị Thủy Quân Lục Chiến, Không Vận, Bộ Binh, Không quân, và Hải quân Mỹ
cùng quân đội các nước đồng minh khác như Ðại Hàn Dân Quốc, Úc Ðại Lợi,
Tân Tây Lan... tham gia chiến đấu chống lại Cộng quân. Vào lúc cao điểm
của cuộc chiến, tổng số quân nhân Mỹ phục vụ trên các chiến trường tại
Việt Nam lên tới 500,000 người. Với hằng trăm cuộc hành quân tiễu trừ
Cộng sản lớn, nhỏ từ cao nguyên xuống đồng bằng và từ Khu Phi Quân Sự
(DMZ) giáp Sông Bến Hải ở phía Bắc cho đến vùng kênh rạch ở Cà Mau, Bộ
Tư Lệnh Quân Ðội Hoa Kỳ tại Việt Nam, trên thực tế, hoàn toàn nắm quyền
kiểm soát cuộc chiến tranh chống Cộng, và vai trò của Quân lực Việt Nam
Cộng Hòa trở nên thứ yếu.
Kể từ cuối năm 1965 trở đi, nhờ sự kiện Quân lực Việt Nam Cộng Hòa có
được chính danh sau khi được chính phủ dân sự của Quốc Trưởng Phan Khắc
Sửu và Thủ Tướng Phan Huy Quát chính thức trao quyền cai trị đất nước và
điều khiển quân đội (ngay trước Ngày Quân Lực 19 Tháng Sáu), mọi xáo
trộn chính trị trong nước lần lượt qua đi và quân đội Miền Nam Việt Nam
khởi sự phục hồi lại phần lớn năng lực đã mất để có thể nới rộng vai trò
chống du kích sang vai trò căn bản là bảo vệ lãnh thổ trước các cuộc tấn
công quấy rối và lấn đất, giành dân của Cộng quân. Dần dà, Quân lực Việt
Nam Cộng Hòa đã có đủ khả năng mở các cuộc hành quân tảo thanh Việt Cộng
trên bốn vùng chiến thuật song song với các lực lượng Hoa Kỳ và Ðồng
Minh đang có mặt trên khắp các chiến trường.
Nhưng vai trò của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa chỉ nổi bật trở lại sau
biến cố Tết Mậu Thân 1968 khi hằng chục Sư đoàn Cộng quân gồm bộ đội
chính quy Cộng sản Bắc Việt và quân du kích của mật Trận Giải Phóng Miền
Nam đồng loạt mở cuộc “tổng tấn công, tổng nổi dậy” bất ngờ trong thời
gian hưu chiến nhân dịp Tết, đánh vào nhiều tỉnh lỵ và thành phố tại
Miền Nam Việt Nam, kể cả thủ đô Sài Gòn và cố đô Huế. Nhưng Quân lực
Việt Nam Cộng Hòa đã đứng vững và lần lượt tái chiếm hết những phần đất
bị Cộng quân tạm chiếm, kể cả cố đô Huế, và xóa tên nhiều đại đơn vị của
Cộng quân. Cũng kể từ năm 1968, Miền Nam Việt Nam khởi sư tổng động viên
nhân lực tham gia quân đội, khiến cho Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đạt tới
mức có sẵn 1 triệu binh sĩ chiến đấu dưới cờ vào năm 1972.
Quân đội này lại còn hùng mạnh hơn lên khi đồng minh Hoa Kỳ quyết định
tăng cường võ trang các chiến cụ tối tân cho Quân lực Việt Nam Cộng Hòa
để họ có thể tự mình chiến đấu bảo vệ Miền Nam Việt Nam đặng quân Mỹ có
thể yên lòng và có thêm chính danh mà rút về nước trong một chiến lược
mới được gọi là kế hoạch “Việt Nam Hóa” chiến tranh (Vietnamization of
the war) do Tổng Thống Richard Nixon và Cố Vấn An Ninh Quốc Gia lúc bấy
giờ là Tiến Sĩ Henry Kissinger đề xướng. (3) Chính nhờ công cuộc “Việt
Nam Hóa” chiến tranh này mà Quân lực Việt Nam Cộng Hòa ngày càng có đủ
khả năng chiến đấu hữu hiệu chống các lực lượng thuộc Quân Ðội Nhân Dân
của Cộng sản Bắc Việt xâm nhập vào Miền Nam cũng như các lực lượng địa
phương của mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Trên thực tế, vào thời điểm
này, Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã thực hiện nhiều gấp ba lần các cuộc
hành quân so với thời gian quân đội Hoa Kỳ và Ðồng Minh đảm nhiệm vai
trò chính trong các chiến dịch tấn công Cộng quân trước đây, đáng kể
nhất là cuộc “Hành Quân Toàn Thắng 43” năm 1970 vượt biên tấn công các
căn cứ hậu cần của Cộng sản Bắc Việt tại Căm Bốt và cuộc “Hành Quân Lam
Sơn 719” năm 1971 tấn công vào hệ thống Ðường Mòn Hồ Chí Minh tại Nam
Lào, ngay dưới Khu Phi Quân Sự (DMZ), mặc dù các cuộc hành quân do Quân
lực Việt Nam Cộng Hòa vẫn phải trông cậy nhiều vào hỏa lực yểm trợ của
phi pháo từ các phản lực chiến đấu cơ và từ những trực thăng võ trang
Hoa Kỳ. (4)
Năm 1972, Tướng Võ Nguyên Giáp của Cộng sản Bắc Việt mở cuộc tấn công
lớn trong “Mùa Hè Ðỏ Lửa”, mà người Mỹ gọi là “Cuộc Tấn Công Mùa Lễ Phục
Sinh” (Easter Offensive), cuộc tấn công toàn diện đầu tiên do tất cả các
đại đơn vị thiện chiến của Cộng sản Bắc Việt và các lực lượng du kích
địa phương phối hợp thực hiện đánh vào các quận lỵ và tỉnh lỵ có tầm vóc
quan trọng về mặt chiến lược tại Miền Nam Việt Nam. Trong giai đoạn đầu,
Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, vì yếu tố bất ngờ, đã phải chịu tổn thất khá
nặng nề, nhưng vẫn giữ vững được hầu hết các phòng tuyến trên toàn lãnh
thổ. Cộng Quân chiếm được phần lớn tỉnh địa đầu giới tuyến Quảng Trị và
một số khu vực dọc theo vùng biên giới với Lào và Căm Bốt.
Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, ngay sau đó, đã khởi sự những cuộc phản công
quyết liệt và hữu hiệu trên khắp các mặt trận chính yếu. Nhờ sức chiến
đấu kiên cường và anh dũng của các đơn vị tinh nhuệ trong Quân lực Việt
Nam Cộng Hòa cùng sự yểm trợ bằng phi pháo và hải pháo hùng hậu của Hoa
Kỳ tại các mặt trận từ An Lộc (ở Vùng 3 Chiến Thuật) cho tới Quảng Trị
(thuộc Vùng 1 Chiến Thuật), và Kon Tum (tại Vùng 2 Chiến Thuật), cuộc
tổng công kích Mùa Hè 1972 của Cộng quân đã bị bẻ gẫy. Các cuộc phản
công của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đặc biệt là tại các mặt trận An Lộc
gần thủ đô Sài Gòn và tại Cổ Thành Quảng Trị gần Khu Phi Quân Sự, đã
đánh bật được các lực lượng Cộng sản ra khỏi những vị trí mà họ đã vây
hãm hoặc cố thủ.
Cho tới đầu năm 1974, Hoa Kỳ hầu như đã rút hết các lực lượng chiến đấu
của họ ra khỏi Miền Nam Việt Nam, và Quân lực Việt Nam Cộng Hòa từ nay
đã phải đơn độc chiến đấu cho sự sống còn của Miền Nam Việt Nam trong
khi các lực lượng Cộng sản vẫn tiếp tục nhận được những khoản viện trợ
dồi dào về vũ khí, đạn dược, và tiếp liệu từ các nước đàn anh Trung Quốc
và Liên Xô để kéo dài cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam Cộng Hòa mặc dù
họ đã hạ bút ký tên vào bản Hiệp Ðịnh Ba Lê, chấm dứt chiến tranh và lập
lại hòa bình tại Miền Nam Việt Nam.
Mùa Thu năm 1974, Tổng Thống Richard Nixon đã phải từ chức vì vụ tai
tiếng chính trị Watergate, và Tổng Thống Gerald Ford lên thay. Nóng lòng
muốn rút chân ra khỏi Việt Nam, Quốc Hội Hoa Kỳ do đảng Dân Chủ kiểm
soát khởi sự cắt bớt các khoản viện trợ quân sự và kinh tế dành cho Việt
Nam Cộng Hòa, từ 1 tỷ đô-la mỗi năm xuống còn 700 triệu đô-la. Lịch sử
coi sự sụp đổ của Sài Gòn vào ngày 30 Tháng Tư năm 1975 là hậu quả của
việc Hoa Kỳ giảm thiểu rồi cắt đứt quân viện và kinh viện cho Việt Nam
Cộng Hòa. Không có viện trợ của Hoa Kỳ, Miền Nam Việt Nam cảm thấy, về
mặt tiếp vận và tài chánh, không thể nào tiếp tục cuộc chiến tranh để
đánh bại quân Cộng sản xâm lược được. Không còn nghi ngờ gì nữa, việc
cắt giảm rồi chấm dứt viện trợ của Hoa Kỳ dành cho Việt Nam Cộng Hòa,
chủ yếu là vũ khí và đạn dược cho Quân lực Việt Nam Cộng Hòa tiếp tục
chiến đấu, đã khuyến khích các nhà lãnh đạo Cộng sản tại Hà Nội tiến
hành cuộc tổng tấn công sau cùng để đánh chiếm toàn bộ Miền Nam Việt
Nam. (5)
Ðầu năm 1975, sau khi Hoa Kỳ đã hầu như hoàn toàn kết thúc việc can
thiệp vào và giúp đỡ cho chính phủ và các lực lượng quân sự Việt Nam
Cộng Hòa, Cộng sản Bắc Việt đã quyết định mở cuộc tổng tấn công sau cùng
để thanh toán một mục tiêu mà họ đã tiên liệu là thế nào cũng rơi vào
tay họ trước tình trạng nước đồng minh chính yếu của Miền Nam Việt Nam,
sau hơn một thập niên can dự vào cuộc Chiến Tranh Việt Nam, mất đi
58,000 chiến binh và hao tổn đến hằng trăm tỷ Mỹ kim, đã tiêu tan hết
mọi ý chí chiến đấu để chiến thắng trong cuộc Chiến Tranh Việt Nam.
Các lực lượng Cộng sản đã lần lượt đánh chiếm Ban Mê Thuột ở Vùng 2,
tràn xuống Khánh Hòa-Nha Trang ở vùng duyên hải, rồi ngược lên phía Bắc
đánh chiếm Huế và Ðà Nẵng tại Vùng 1 Chiến Thuật. Quân lực Việt Nam Cộng
Hòa, mất tinh thần vì rõ ràng là đã bị Ðồng Minh bỏ rơi nửa chừng, cứ
tiếp tục lui binh mãi về hướng thủ đô Sài Gòn ở phía Nam, thuộc Vùng 3
Chiến Thuật, và chỉ kháng cự bằng một trận đánh quan trọng tại Xuân Lộc,
nơi đây Sư Ðoàn 18 Bộ Binh dưới quyền Thiếu Tướng Lê Minh Ðảo, cùng với
các lực lượng Nhảy Dù và Biệt Ðộng Quân, đã bẻ gẫy tất cả các mũi dùi
tấn công của Cộng quân và gây thiệt hại rất nặng nề về nhân mạng cho
quân tấn công. Các cấp chỉ huy quân sự Cộng sản đành phải lặng lẽ rời bỏ
mặt trận này, đi vòng về phía Tây qua vùng giáp ranh giữa Quân Khu 2 và
Quân Khu 3 mà tiến xuống phía Nam đặng thực hiện kế hoạch bao vây thủ đô
Sài Gòn.
Trận chiến dứt điểm thủ đô của Miền Nam tự do không kéo dài như các quan
sát viên quân sự từng dự đoán, bởi vì các nhà lãnh đạo Cộng sản từ Hà
Nội kéo vào đã khéo léo phối hợp các nỗ lực quân sự với những đòn chính
trị có tính cách vừa dụ dỗ những thành phần nhẹ dạ và thân Cộng vừa ly
gián các lực lượng của người Quốc Gia chân chính vẫn muốn chiến đấu tới
cùng trong một trận sống mái với Cộng sản rồi ra sao thì ra, trong đó
phải kể tới những đơn vị lớn thuộc các quân, binh chủng trong Quân lực
Việt Nam Cộng Hòa, đặc biệt là Sư Ðoàn Nhảy Dù tinh nhuệ và được coi là
bách chiến, bách thắng của Miền Nam Việt Nam. Vào sáng ngày 30 Tháng Tư
năm 1975, Tổng Thống Dương Văn Minh, lên kế nhiệm Tổng Thống Trần Văn
Hương, nhà lãnh đạo luống tuổi từng thay thế Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu
từ chức và bỏ nước đi lưu vong vào chiều ngày 21 Tháng Tư, 1975, đã phải
công bố lệnh đầu hàng không điều kiện trước các lực lượng Cộng sản và
Sài Gòn chính thức rơi vào tay Cộng quân. Ðiều cần ghi nhận là, sau khi
chính quyền trung ương của Việt Nam Cộng Hòa tại thủ đô hoàn toàn tan
rã, hầu như toàn thể Vùng 4 Chiến Thuật dưới quyền của vị Tư Lệnh Quân
Khu 4, Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, vẫn còn nguyên vẹn, vì Cộng quân
không có đủ lực lượng để tiến vào nơi đây. Các danh tướng và cấp chỉ huy
ưu tú của Quân lực Việt Nam Việt Nam Cộng Hòa như Thiếu Tướng Nguyễn
Khoa Nam, Thiếu Tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, Chuẩn Tướng
Trần Văn Hai, và Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn... đều tự vẫn hoặc chiến đấu cho đến
chết để chứng tỏ khí phách anh hùng của giới sĩ quan cao cấp trong Quân
lực Việt Nam Cộng Hòa chủ trương “thành mất thì chết theo thành,” một
truyền thống mà trong lịch sử cận đại của Việt Nam, Kinh Lược Sứ Phan
Thanh Giản và Tổng Ðốc Hoàng Diệu đã nêu gương sáng sau khi sáu tỉnh Nam
Kỳ và Thành Hà Nội rơi vào tay quân xâm lược Pháp hồi cuối thế kỷ 19.
(6)
Sau hơn hai thập niên chiến đấu kiên cường, trong đó có gần một thập
niên nằm dưới quyền điều khiển của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, Việt Nam
Cộng Hòa và Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, vì bị Hoa Kỳ bỏ rơi nửa chừng,
đành phải bại trận một cách tức tưởi vào ngày 30 Tháng Tư năm 1975 trước
những nhà chinh phục Cộng sản từ miền Bắc tiến vào. Cái chết của Miền
Nam Việt Nam và cái chết của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa là hậu quả tất
yếu của một cuộc chiến tranh trong đó cả hai bên lâm chiến đều không ai
có đủ điều kiện, quân sự, kinh tế, và chính trị, một mình đứng ra đảm
đương cuộc chiến mà phải nhờ đến các thế lực bên ngoài. Rồi khi một
trong hai bên nào đó thình lình bị đồng minh bỏ rơi, như trường hợp của
Việt Nam Cộng Hòa, thì kẻ bị bỏ rơi đương nhiên phải thua trận.
Chế độ quân nhân tại Việt Nam Cộng Hòa không phải là chế độ quân
phiệt, Ngày Quân Lực 19 Tháng Sáu phải được tôn vinh
Như đã trình bày ở trên, chế độ quân nhân tại Miền Nam Việt Nam, thoạt
tiên tuy do các thành phần sĩ quan cao cấp của Quân lực Việt Nam Cộng
Hòa giữ vai trò lãnh đạo, đã khác biệt gần như hoàn toàn với các chế độ
quân phiệt đương thời trên toàn thế giới. Các lý do sau đây làm sáng tỏ
nhận định này:
- Chế độ quân phiệt tồn tại mà không cần lý do chính đáng, phần lớn là
do các lãnh tụ quân phiệt tự tạo nên lý do tồn tại, như viện cớ phải
bành trướng thế lực trên trường quốc tế (trường hợp quân phiệt Nhật Bản
trước và trong Ðệ nhị Thế Chiến), chống xu hướng Cộng sản (trường hợp Hy
Lạp, Thái Lan, và Indonesia thời Suharto), chống phiến quân tả phái
(trường hợp Chile, El Salvador, Nicaragua...) hoặc chống tất cả các
khuynh hướng đối lập (trường hợp Pakistan, Ai Cập, Libya, Myanmar...).
Chế độ quân nhân tại Việt Nam Cộng Hòa không tự phát sinh mà ra đời do
những hoàn cảnh đặc biệt của đất nước. Ngay như cuộc đảo chánh Tổng
Thống Ngô Ðình Diệm hồi năm 1963 để đưa Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng lên
cầm quyền, dù vẫn bị coi là tai hại cho nền độc lập của đất nước (vì do
Mỹ giật dây) và làm suy yếu nỗ lực chiến đấu chống Cộng, vẫn được biện
minh vì chế độ của ông Diệm có khuynh hướng kỳ thị Phật Giáo và không
chịu triệt để đi theo đường lối của Hoa Kỳ là nước đang cung cấp kinh
viện và quân viện cho Miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ.
- Chế độ quân phiệt thường tự mình gây ra chiến tranh chống một nước
khác hoặc chống lại chính nhân dân của đất nước mình. Ðó là trường hợp
của quân phiệt Nhật Bản trước và trong Ðệ nhị Thế Chiến (dưới thời Thủ
Tướng Hideki Tojo [Ðông Ðiều]) và các chế độ quân phiệt tại Chile hay
Myanmar khi chính quyền do các hội đồng quân nhân tại các nước đó gây
chiến tranh chống lại các dân tộc khác hay chống lại chính dân chúng của
mình mà họ gọi là loạn quân hay quân nổi dậy. Một số tài liệu lịch sử
mới được tiết lộ cho thấy rằng, vào Tháng Hai năm 1947, quân đội Trung
Hoa Quốc Gia của Thống Chế Tưởng Giới Thạch đã phạm tội tàn sát hằng
chục nghìn thường dân vô tội trên Ðảo Ðài Loan khi các lực lượng Quốc
Dân Ðảng Trung Hoa được phái sang hải đảo này để chống lại cuộc nổi dậy
của dân chúng địa phương.
Trong cuộc Chiến Tranh Việt Nam, Việt Nam Cộng Hòa là nạn nhân của cuộc
xâm lấn của Cộng sản từ miền Bắc, và chế độ quân nhân tại đây chẳng
những không đánh lại chính nhân dân mình mà, trái lại, còn hy sinh xương
máu để bảo vệ cuộc sống tự do và thanh bình của dân chúng, cho nên người
lính Cộng Hòa luôn được đa số dân chúng, những thành phần không bị Cộng
sản mê hoặc, ủng hộ và đi theo (trong các cuộc di tản hoặc chạy loạn)
cho đến khi bị địch pháo kích chết thì thôi.
- Chế độ quân phiệt tồn tại mãi cho tới khi nào bị dân chúng trong nước
hoặc các thế lực ngoại bang dẹp bỏ mới thôi. Ðiều này đúng cho hầu hết
các chế độ quân nhân tại Nam Mỹ, Ðông Nam Á, và Phi Châu. Chế độ quân
nhân tại Việt Nam Cộng Hòa, được khai sinh từ ngày lật đổ Tổng Thống Ngô
Ðình Diệm hồi năm 1963 và tái lập vào ngày Quân Lực 19 Tháng Sáu năm
1965, đã tự ý trao quyền cho một thể chế dân sự hoặc xuyên qua các tuyên
cáo và quyết định (như Quyết Ðịnh Số 4 ngày 16 Tháng Hai năm 1965 của
hội Ðồng Quân Lực trao quyền quản trị hành chánh quốc gia lại cho phe
dân sự tại Miền Nam Việt Nam) hoặc qua các cuộc bầu cử tổng thống, Quốc
Hội và các hội đồng tỉnh, thành tại Miền Nam Việt Nam thời Ðệ nhị Cộng
Hòa.
- Các thành phần lãnh đạo của những chế độ quân phiệt thường lạm quyền,
tham nhũng và gây nhiều tội ác chống lại dân chúng cho nên sau khi các
chế độ này sụp đổ thì các lãnh tụ của chế độ thường bị các chế độ kế
tiếp hay chính dân chúng tại các quốc gia đó xử tội. Ðó là trường hợp
của nhà độc tài Suharto bên Indonesia và Pinochet ở Chile. Riêng chế độ
quân nhân tại Miền Nam Việt Nam, vì xuất thân từ dân chúng mà ra, đã
không hề gây tội ác nào với dân chúng, nếu không nói được là họ đã xả
thân chăm lo bảo vệ hạnh phúc của dân chúng. Nền Ðệ nhị Cộng Hòa tại
Miền Nam Việt Nam tuy cũng mang tiếng là có những thành phần tham nhũng,
nhưng mức độ tham nhũng đó chẳng có gì đáng kể một khi đem so với các
chế độ quân phiệt hay độc tài đương thời tại những nơi khác, từ Á Châu
cho tới Mỹ Châu La-tinh, và Phi Châu, đừng nói gì đến chuyện đem so sánh
với mức độ tham nhũng hiện nay của các viên chức chế độ Cộng sản tại
Việt Nam bây giờ.
Ðiều độc đáo và quan trọng nhất là chế độ quân nhân tại Việt Nam Cộng
Hòa có lý do hết sức chính đáng để tồn tại, dù chỉ trong ngắn hạn, trong
khi các chế độ quân nhân và quân phiệt cũng như các chế độ độc tài, độc
đảng tại những nơi khác thì không. Ngoại trừ Nam Hàn là nước đang gặp
hiểm họa bị xâm lấn một lần nữa từ phía Cộng sản Bắc Hàn, chứ không thực
sự bị xâm lấn kể từ sau khi cuộc Chiến Tranh Triều Tiên chấm dứt vào năm
1953 và sau khi quân đội Mỹ đã lập nên tuyến thép ngăn chặn Cộng sản Bắc
Hàn ngay tại phía Nam vĩ tuyến 38, không có một chế độ quân nhân hay
quân phiệt nào tại các nơi khác trên thế giới phải đối phó với một cuộc
chiến tranh xâm lược cấp bách mang tính quy mô và được nửa kia của thế
giới hết lòng cổ xúy và yểm trợ. Các chế độ quân phiệt tại Thái Lan,
Indonesia, Chile, El Salvadore, Nicaragua... bất quá chỉ bị phiến quân
và quân nổi dậy đe dọa mà thôi, mà lý do chính yếu của các cuộc nổi dậy
tại những nơi đó đôi khi lại nảy sinh từ chính sự hiện hữu của các chế
độ độc tài, áp bức đó, vì thế, khi các chế độ đó thôi không hiện hữu thì
những cuộc bạo loạn tại các nơi đó cũng tự dưng mất đi. Ðó là chưa kể
những chế độ độc tài (dictatorship) tại những nơi như Phi Luật Tân, thời
Ferdinand Marcos, là nơi mà chính quyền chỉ cần viện cớ là đất nước đang
bị phiến quân Cộng sản (Huks) đe dọa thôi cũng đủ cho chính quyền ra
lệnh thiết quân luật, ngưng thi hành mọi quyền tự do, dân chủ trong
nước, và cai trị dài dài bằng sắc lệnh.
Lời cuối
Nghĩ cho cùng, chế độ quân nhân tại Miền Nam Việt Nam trong thời điểm có
cuộc chiến tranh thôn tính Miền Nam của Ðảng Cộng sản Việt Nam từ miền
Bắc là chế độ nếu không hoàn toàn chính đáng trên danh nghĩa thì cũng là
một sự cần thiết của lịch sử. Phải biết rằng, xuyên suốt lịch sử Việt
Nam, hầu như tất cả các chế độ cai trị ban đầu của các triều đại có
trước các nền Ðệ nhất và Ðệ nhị Cộng Hòa tại Miền Nam Việt Nam, từ thời
các Vua Hùng dựng nước (với các Lạc hầu, Lạc tướng), thời Trưng Nữ
Vương, các triều đại của Ngô Vương Quyền, Ðinh Tiên Hoàng, Lê Ðại Hành,
Lý Thái Tổ, Trần Thái Tông, Lê Lợi, Nguyễn Quang Trung, và Nguyễn Gia
Long, đều là những chế độ quân nhân, ít nhất cũng dưới thời các vị vua
khai sáng triều đại để dựng nước hoặc để giành lại độc lập cho Việt Nam
khỏi tay kẻ thù phương Bắc là Trung Hoa. Và dĩ nhiên là các đấng tiên
vương của Việt Nam đều không hề là những thành phần quân phiệt mà chính
là những vị anh hùng hết sức xứng đáng được toàn dân muôn đời ngưỡng mộ
và tôn thờ.
Vì các lẽ ấy, nếu cuộc chiến tranh bảo vệ nền tự do, dân chủ tại Miền
Nam Việt Nam trước đây được coi là chính đáng thì không có lý do gì mà
người Việt Quốc Gia từ trong nước lẫn ở hải ngoại lại quên đi Ngày Quân
Lực 19 Tháng Sáu hằng năm. Ngày mai đây, khi Việt Nam trở thành một đất
nước thật sự có tự do dân chủ, khi lịch sử cận đại và hiện đại của Việt
Nam được viết lại một cách nghiêm chỉnh và khi cuộc chiến tranh
Quốc-Cộng được đánh giá đúng mức, Ngày Quân Lực 19 Tháng Sáu phải được
coi là một trong những ngày kỷ niệm huy hoàng cả trong quân sử lẫn trong
lịch sử dân tộc Việt Nam, không ai hoặc không một thế lực nào có thể làm
khác đi được. (V.P.)
Ghi chú:
(1) Ngay từ dưới thời Ðệ nhất Cộng Hòa của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, bên
cạnh các Tòa Ðại Biểu Chính Phủ tại Trung Nguyên Trung Phần, Cao Nguyên
Trung Phần và Nam Phần Việt Nam do các nhân vật dân sự cầm đầu, vị tổng
tư lệnh Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa (kiêm Bộ Trưởng Quốc Phòng) cũng đã
phải chỉ định các tướng lãnh quân đội làm tư lệnh các quân khu liên hệ
tại các vùng để trực tiếp điều hành công cuộc bảo vệ trị an trước nguy
cơ Cộng sản Bắc Việt quyết tâm thôn tính Miền Nam tự do sau khi cuộc
tổng tuyển cử để thống nhất hai miền đất nước được dự trù mở ra tại Bắc
và Nam Việt Nam vào năm 1956 đã không được thực hiện. Trên thực tế, Tổng
Thống Diệm đã giao toàn quyền quyết định về quân sự cho các vị tư lệnh
quân khu liên hệ vì ông biết rõ các nhân vật dân sự trong chính phủ
không đủ khả năng thi hành sứ mạng này.
(2) Bản Tuyên Cáo của Quốc Trưởng, Chủ Tịch Hội Ðồng Quốc Gia Lập Pháp
và Thủ Tướng Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa, được công bố ngày 11 Tháng Sáu
năm 1965, có đoạn viết:
“Sau khi duyệt lại tình trạng ngày một khẩn trương của đất nước, sau khi
đã xét lại và xác nhận rằng: những cơ cấu và thể chế Quốc Gia hiện tại
không còn phù hợp với tình thế.... Quốc Trưởng Việt Nam Cộng Hòa, Hội
Ðồng Quốc Gia Lập Pháp, Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa đồng thanh quyết
định long trọng trao trả lại cho Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa trách nhiệm
và quyền lãnh đạo quốc gia đã được Hội Ðồng Quân Lực ủy thác cho chúng
tôi.... Yêu cầu toàn thể đồng bào các giới không phân biệt giai tầng,
địa phương, đảng phái, và tôn giáo, ủng hộ Quân lực Việt Nam Cộng Hòa
trong việc lãnh đạo toàn Quân và toàn Dân đúng theo tinh thần của Cách
Mạng 1/11/1963.”
(3) Theo các số liệu chính thức, sau khi công cuộc “Việt Nam Hóa Chiến
Tranh” hoàn tất vào cuối năm 1973, Hoa Kỳ đã cung cấp cho Quân lực Việt
Nam Cộng Hòa 640,000 khẩu súng
trường M-16, 34,000 súng phóng lựu M-79, 40,000 máy truyền tin, 20,000
xe vận tải, và 56 chiến xa hạng trung M-48. Không Lực Việt Nam Cộng Hòa
nhận được 200 khu trục và oanh tạc chiến đấu cơ, bao gồm khu trục cơ A-1
Skyraider, oanh tạc cơ A-37, và phản lực chiến đấu cơ F-5 cùng với 30
phi cơ võ trang AC-47 và 6,000 vận tải cơ, trong số đó mộ số được biến
cải thành phi cơ “Hỏa Long” như AC-119 và AC-123, cộng với 500 trực
thăng các loại cùng một số phi cơ thám thính gồm loại OV-10 Bronco và
các “máy bay bà già “L-19 (Vào lúc cao điểm của cuộc Chiến Tranh Việt
Nam, khi có khoảng 500,000 binh sĩ Mỹ tham chiến tại Miền Nam Việt Nam,
các lực lượng Hoa Kỳ đã sử dụng tới 3,000 trực thăng đủ loại). Mặc dù số
lượng vũ khí nhận được có vẻ lớn lao như thế, Quân lực Việt Nam Cộng
Hòa, về mặt trang bị, vẫn còn kém thua quân đội Hoa Kỳ nhiều lắm, và
nhất là quân số bị thiếu hụt so với quân số của Cộng sản Bắc Việt là đạo
quân đông đảo đứng vào hàng thứ 5 trên thế giới lúc bấy giờ, chưa kể số
quân du kích của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam vẫn cùng họ tham gia tấn
công tại Miền Nam Việt Nam (Wikipedia, June 8, 2007).
(4) Tháng Năm năm 1970, các lực lượng thuộc Quân Ðoàn 3 của Quân lực
Việt Nam Cộng Hòa chiến thắng lớn trong cuộc hành quân “Toàn Thắng 43,”
vượt biên tấn công vào Căm Bốt, phá hủy nhiều kho vũ khí, đạn dược và
lương thực cùng thuốc men của các lực lượng Cộng sản từ Miền Bắc đưa vào
cất giấu tại vùng biên giới Việt-Miên nhằm tiếp trợ cho nỗ lực chiến
tranh đánh chiếm Miền Nam Việt Nam của họ. Một cuộc hành quân quy mô
khác của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa vào Tháng Giêng năm 1971, mệnh danh
Lam Sơn 719, tấn công thẳng vào hệ thống Ðường Mòn Hồ Chí Minh ngay dưới
Khu Phi Quân Sự và trên Ðường Số 9 tại Nam Lào, tuy phải chịu nhiều tổn
thất nhân mạng do gặp địch kháng cự mạnh, vẫn hoàn thành mục tiêu phá vỡ
hệ thống hậu cần tiếp tế cho các lực lượng Cộng sản đang mở các cuộc tấn
công phá hoại tại Miền Nam Việt Nam. Ðiều hiển nhiên là các thành tựu
này của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã khiến cho các lực lượng Cộng quân
đang tham chiến bắt đầu nao núng, và họ thấy cần phải có thêm thời gian
để tái bổ sung quân số cũng như tiếp liệu cho các lực lượng đang dần dần
bị kiệt quệ của họ. Hệ quả chính trị trông thấy của các chiến thắng quân
sự mới do Quân lực Việt Nam Cộng Hòa tạo nên là giới lãnh đạo Cộng sản
tại Hà Nội đã phải khởi sự đàm phán nghiêm chỉnh hơn trong cuộc Hòa Ðàm
Ba Lê lúc gió đang diễn tiến tại thủ đô của Pháp nhằm tìm kiếm một giải
pháp hòa bình cho cuộc Chiến Tranh Việt Nam.
(5) Tháng Mười Hai năm 1974, sau khi Hoa Kỳ đã hoàn tất việc rút lui về
mặt quân sự ra khỏi Miền Nam Việt Nam, Tổng Bí Thư Lê Duẫn của Ðảng Cộng
sản Việt Nam tuyên bố: “Bọn Mỹ đã rút đi... đây là biến chuyển đánh dấu
thời cơ của chúng ta.”
(6) Theo Wikipedia, truy cập ngày 14 Tháng Sáu năm 2008, trong cuộc
chiến đấu để bảo vệ tự do, dân chủ cho Miền Nam Việt Nam, các chiến sĩ
thuộc Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã cống hiến cho đất nước những hy sinh
vô cùng to lớn và cao cả mà cho tới nay vẫn chưa có gì đền đáp nổi. Theo
các con số phỏng định, vào lúc kết thúc cuộc Chiến Tranh Việt Nam
(1959-1975), Quân lực Việt Nam Cộng Hòa có 250,000 chiến sĩ bỏ mình và
Quân Ðội Hoa Kỳ có 58,000 quân nhân hy sinh. Không có con số chính thức
cho biết có bao nhiêu chiến binh Cộng sản đã tử trận trong cuộc chiến,
mặc dù con số này ít nhất cũng phải cao hơn gấp ba lần con số tử sĩ Việt
Nam Cộng Hòa, bởi vì họ thường phải hứng chịu hỏa lực ghê gớm của các
lực lượng Ðồng Minh và Việt Nam Cộng Hòa, trong đó phải kể tới những
cuộc giội bom trải thảm của các pháo đài bay chiến lược B-52, và cũng vì
các cấp chỉ huy của họ, kể cả danh Tướng Võ Nguyên Giáp, vẫn ưa dùng
chiến thuật biển người có tính cách thí quân trong những cuộc tấn công.
(V.P.)
Nguồn: Internet E-mail by TS. Tạ Cự Hải
Bấm vào đây để in ra giấy (Print)
Đăng ngày Thứ Bảy, JUNE 11th, 2011
Ban Kỹ Thuật K10A-72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH