Bấm vào đây để in ra giấy (Print)
Lời Giới Thiệu: Xin mời quý vị đọc một
bài viết của một cựu sĩ quan Hoa Kỳ đã từng chiến đấu trên chiến trường
Việt Nam, cựu bộ trưởng Bộ Hải Quân Hoa Kỳ và hiện là thượng nghị sĩ
liên bang của Hoa Kỳ, nói lên quan điểm về cuộc chiến Việt Nam. Thú
thật, cho đến bây giờ mới thấy một người Mỹ trí thức có đầy đủ hiểu biết
về cuộc chiến Việt Nam đã viết một bài chân thật, rất đáng kính trọng và
rất đáng đưa vào lịch sử của Hoa Kỳ để cho con cháu người dân Hoa Kỳ
được hiểu rõ hơn cuộc chiến Việt Nam mà trước đây những kẻ viết lịch sử
Hoa Kỳ đã thiếu dữ kiện sống để viết.
THG
![]()
Biết giải thích như thế nào với những
đứa con của tôi rằng khi tôi mười mấy, đôi mươi, những tiếng nói ồn ào
nhất của những người cùng tuổi, cùng thời với tôi lại nhắm mục đích phá
nát những nền tảng của xã hội Hoa Kỳ, để xây dựng lại một xã hội dựa
theo quan điểm đầy tự mãn của họ. Giờ đây nhìn lại, ngay cả chúng ta,
những người đã trải qua giai đoạn này, cũng không hiểu được tại sao lại
có những kẻ với trình độ học vấn cao, đa số sinh ra từ gia đình thượng
lưu, lại có thể gieo rắc những tư tưởng phá hoại làm nhiễm độc bầu không
khí của thập niên 1960 và những năm đầu của thập niên 1970. Ngay cả Quốc
Hội cũng bị nhiễm những con vi khuẩn này.
Sau khi Tổng Thống Nixon từ chức vào tháng Tám 1974, cuộc bầu cử mùa Thu
năm ấy mang lại 76 tân dân biểu thuộc đảng Dân Chủ và 8 thượng nghị sĩ.
Đại đa số những dân cử chân ướt, chân ráo này đã tranh cử dựa trên cương
lãnh của Mc Govern. Nhiều người trong số họ được xem như những ứng viên
yếu kém trước khi Nixon từ chức, vài người không xứng đáng thấy rõ,
chẳng hạn như Tom Downey, 26 tuổi, thuộc New York, người chưa từng có
một nghề ngỗng gì và vẫn còn ở nhà với mẹ.
Cái gọi là Quốc Hội hậu Watergate này diễu hành vào thành phố với một sứ
mệnh vô cùng quan trọng mà sau này trở thành điểm tập hợp cho cánh Tả
của Hoa Kỳ: Chấm dứt sự giúp đỡ của nước Mỹ dưới bất kỳ hình thức nào
cho chính quyền đang bị vây khốn Nam Việt Nam. Không nên lầm lẫn ở chỗ
này – đây không phải là sự kêu gào thanh niên Mỹ đừng đi vào cõi chết
của những năm trước đây. Những người lính Mỹ cuối cùng đã rời khỏi Việt
Nam hai năm trước rồi, và đã tròn bốn năm không có một người Mỹ nào bị
tử trận.
Bởi những lý do mà không một viện dẫn lịch sử nào có thể bào chữa được,
ngay cả sau khi quân đội Mỹ triệt thoái, cánh Tả vẫn tiếp tục những cố
gắng để đánh gục nền Dân Chủ còn phôi thai của Nam Việt Nam. Phụ tá sau
này của Tòa Bạch Ốc Harold Ickes và nhiều người khác trong “Chiến Dịch
Kiểm Soát Tài Chánh” – có một lúc được giúp đỡ bởi một người tuổi trẻ
nhiều tham vọng: Bill Clinton – làm việc để cắt toàn bộ những khoản tài
trợ của Quốc Hội nhằm giúp miền Nam Việt Nam tự bảo vệ. Liên Hiệp Hoà
Bình Đông Dương, điều hành bởi David Dellinger và được quảng bá bởi Jane
Fonda và Tom Hayden, phối hợp chặt chẽ với Hà Nội suốt năm 1973 và 1974,
đi khắp các khuôn viên đại học Mỹ, tập hợp sinh viên để chống lại điều
được cho là những con ác quỷ trong chánh quyền Nam Việt Nam. Những đồng
minh của họ trong Quốc Hội liên tục thêm vào những tu chính án để chấm
dứt sự viện trợ của Hoa Kỳ cho những người Việt Nam chống Cộng Sản, ngăn
cấm cả đến việc sử dụng không lực để giúp những chiến binh Nam Việt Nam
đang bị tấn công bởi các đơn vị bộ đội chánh quy Bắc Việt được khối Sô
Viết và Trung Cộng yểm trợ.
Rồi đến đầu năm 1975 Quốc Hội Watergate giáng một đòn chí tử xuống các
nước Đông Dương không Cộng Sản. Tân Quốc Hội lạnh như băng từ chối lời
yêu cầu gia tăng quân viện cho miền Nam Việt Nam và Cam Bốt của Tổng
Thống Gerald Ford. Ngân khoản dành riêng này sẽ cung cấp cho quân đội
Cam Bốt và Nam Việt Nam đạn dược, phụ tùng thay thế, và vũ khí chiến
thuật cần thiết để tiếp tục cuộc chiến tự vệ. Bất chấp sự kiện là Hiệp
Định Paris 1973 đặc biệt đòi hỏi phải cung cấp “viện trợ để thay thế
trang thiết bị quân sự vô giới hạn” cho Nam Việt Nam, đến tháng Ba phe
Dân Chủ trong Quốc Hội biểu quyết với tỷ số áp đảo, 189-49, chống lại
bất kỳ viện trợ quân sự bổ sung cho Nam Việt Nam và Cam Bốt.
Trong các cuộc tranh luận, luận điệu của phe Tả phản chiến gồm toàn
những lời lên án các đồng minh đang bị chiến tranh tàn phá của Hoa Kỳ.
Và đầy những hứa hẹn về một tương lai tốt đẹp cho các quốc gia này dưới
sự cai trị của chế độ Cộng Sản. Rồi dân biểu Christopher Dodd, tiêu biểu
cho sự ngây thơ hết thuốc chữa của các đồng viện, lên giọng đầy điệu bộ
“gọi chế độ Lon Nol là đồng minh là làm nhục chữ nghĩa…. Tặng vật lớn
nhất mà đất nước chúng ta có thể trao cho nhân dân Cam Bốt là hòa bình,
không phải súng. Và cách tốt nhất để đạt được mục đích này là chấm dứt
viện trợ quân sự ngay lập tức.”
Sau khi trở thành chuyên gia đối ngoại trong vòng chỉ có hai tháng kể từ
lúc thôi bú mẹ, Tom Downey chế diễu những cảnh cáo về tội ác diệt chủng
sắp sửa xảy ra ở Cam Bốt, cái tội ác đã giết hơn một phần ba dân số của
quốc gia này, như sau: “Chính phủ cảnh cáo rằng nếu chúng ta rời bỏ các
quốc gia ấy thì sẽ có tắm máu. Nhưng những cảnh cáo cho việc tắm máu
trong tương lai không thể biện minh cho việc kéo dài việc tắm máu hiện
nay.” Trên chiến trường Việt Nam việc chấm dứt viện trợ quân trang, quân
cụ là một tin làm kinh ngạc và bất ngờ. Các cấp chỉ huy quân đội của
miền Nam Việt Nam đã được đảm bảo về việc viện trợ trang thiết bị khi
người Mỹ rút quân – tương tự như những viện trợ Hoa Kỳ vẫn dành cho Nam
Hàn và Tây Đức – và đảm bảo rằng Hoa Kỳ sẽ tái oanh tạc Bắc Việt, nếu
Bắc Việt tấn công miền Nam, vi phạm hiệp định Paris 1973. Bây giờ thì họ
đang mở mắt trừng trừng nhìn vào một tương lai bất định khủng khiếp,
trong lúc khối Sô Viết và Trung Cộng vẫn tiếp tục yểm trợ cho Cộng Sản
Bắc Việt.
Trong lúc quân đội Nam Việt Nam, vừa choáng váng vừa mất tinh thần, tìm
cách điều chỉnh lại lực lượng để đối phó với những sự thiếu thốn trang
thiết bị cần thiết, quân đội chính quy miền Bắc được tái trang bị đầy đủ
lập tức phát động cuộc tổng tấn công. Bắt giữ được nhiều đơn vị bị cô
lập, quân Bắc Việt tràn xuống vùng đồng bằng trong vòng có 55 ngày.
Những năm về sau, tôi đã phỏng vấn những người lính miền Nam Việt Nam
còn sống sót trong những cuộc giao tranh, nhiều người đã bị trải qua hơn
chục năm trong các trại tù tập trung của Cộng Sản sau khi cuộc chiến
chấm dứt. Những điệp khúc này không bao giờ chấm dứt:
- “Tôi không còn đạn dược.”
- “Tôi chỉ còn 3 quả đạn pháo cho mỗi khẩu một ngày.”
- “Tôi không còn gì để phát cho binh sĩ của tôi.”
- “Tôi phải tắt máy truyền tin, bởi vì tôi không thể nào chịu đựng được
nữa khi phải nghe những lời kêu gọi xin tiếp viện.”
Phản ứng của Hoa Kỳ trước sự xụp đổ này cho thấy có hai nhóm khác nhau,
và điều này vẫn còn tiếp tục được thấy rõ trong nhiều vấn đề mà chúng ta
đang phải đương đầu ngày nay. Đối với những người đã từng chiến đấu ở
Việt Nam, và đối với gia đình, bạn bè, và những người cùng quan điểm
chính trị với họ, đây là là một tháng đen tối và tuyệt vọng.
Những khuôn mặt mà chúng ta thấy đang chạy trốn sự tấn công của Bắc Việt
là những khuôn mặt rất thật và quen thuộc, không phải đơn thuần là những
hình ảnh truyền hình. Những thân người xoay trong không gian như những
bông tuyết, rơi xuống chết thảm khốc sau khi họ đeo và bám vào thân trực
thăng hay phi cơ một cách tuyệt vọng, có thể là những người chúng ta
quen biết hoặc đã từng giúp đỡ. Ngay cả đối với những kẻ không còn niềm
tin vào khả năng đánh bại Cộng Sản, đây không phải là cách để chấm dứt
cuộc chiến.
Đối với những kẻ từng trốn tránh cuộc chiến và lớn lên tin rằng đất nước
chúng ta là quỷ dữ, và ngay cả khi họ thơ mộng hoá những ý định của
người Cộng Sản, những tuần lễ sau cùng này đã chối bỏ trách nhiệm của
mình trong sự xụp đổ này bằng những phê phán quân đội Nam Việt Nam đầy
tính sa lông, hay là công khai reo mừng.
Ở trung tâm Luật Khoa của Đại Học Georgetown nơi tôi đang theo học, việc
Bắc Việt trắng trợn ném bỏ các điều cam kết về hòa bình và bầu cử trong
Hiệp Định Paris 1973, và tiếng xe tăng của Bắc Việt trên đường phố Sài
Gòn được xem như là một cái cớ để thực sự ăn mừng.
Sự chối bỏ trách nhiệm vẫn còn tràn lan trong năm 1997. Thực ra cái kết
cuộc này chính là mục tiêu của phong trào phản chiến đã cố gắng không
ngừng nghỉ trong những năm theo sau sự rút quân của Mỹ. George McGovern,
thẳng thắn hơn nhiều người, công khai tuyên bố với người viết trong lúc
nghỉ khi thâu hình cho chương trình “Crossfire” của CNN vào năm 1995.
Sau khi tôi đã lý luận rằng cuộc chiến rõ ràng là có thể thắng được ngay
cả vào giai đoạn cuối nếu chúng ta thay đổi chiến lược của mình, ứng cử
viên Tổng Thống năm 1972, người tình nguyện đi Hà Nội bằng đầu gối, đã
bình luận rằng: “Anh không hiểu là tôi KHÔNG MUỐN chúng ta chiến thắng
cuộc chiến đó sao?” Ông McGovern không chỉ có một mình. Ông ta là phần
tử của một nhóm nhỏ, nhưng vô cùng có ảnh hưởng lớn trong chính trường.
Sau cùng họ đã đạt được điều họ muốn.
Có lẽ không còn minh chứng nào lớn hơn cho không khí hân hoan chung
quanh chiến thắng của Cộng Sản là giải thưởng điện ảnh năm 1975, được tổ
chức vào ngày 8 tháng 4, ba tuần trước khi miền Nam xụp đổ. Giải phim
tài liệu hay nhất được trao cho phim Hearts and Minds, một phim tuyên
truyền độc ác tấn công những giá trị văn hóa Hoa Kỳ cũng như những cố
gắng của chúng ta để hỗ trợ cho sự chiến đấu cho nền Dân Chủ của miền
Nam Việt Nam. Các nhà sản xuất Peter Davis và Bert Schneider (người thủ
diễn một vai trong câu chuyện của David Horowitz) cùng nhau nhận giải
Oscar. Schneider thẳng thừng trong việc công nhận sự ủng hộ những người
Cộng Sản của mình.
Đứng trước máy vi âm ông ta nói:
- “Thật là ngược đời khi chúng ta đang ở đây, vào thời điểm mà Việt Nam
sắp được giải phóng.”
Rồi giây phút đáng kinh ngạc nhất của Hollywood xảy ra – dù giờ đây đã
được họ cố tình quên đi. Trong lúc quốc gia Việt Nam, mà nhiều người Mỹ
đã đổ máu và nước mắt để bảo vệ, đang tan biến dưới bánh xích của xe
tăng, Schneider lôi ra một điện tín được gởi từ kẻ thù của chúng ta,
đoàn đại biểu Cộng Sản Việt Nam ở Paris, và đọc to lên lời chúc mừng cho
phim của mình. Không một phút giây do dự, những kẻ nhiều quyền lực nhất
của Hollywood đứng dậy hoan nghênh việc Schneider đọc bức điện tín này.
Chúng ta, những người đã từng chiến đấu ở Việt Nam hoặc là những người
ủng hộ những cố gắng ở đó, nhìn lại cái khoảnh khắc này của năm 1975 với
sự sửng sốt không nguôi và không bao giờ quên được. Họ là ai mà cuồng
nhiệt đến thế để đầu độc cái nhìn của thế giới về chúng ta? Sao họ lại
có thể chống lại chính những người đồng hương của mình một cách dữ tợn
đến thế? Sao họ có thể đứng dậy để hoan nghênh chiến thắng của kẻ thù
Cộng Sản, kẻ đã làm thiệt mạng 58,000 người Mỹ và đè bẹp một đồng minh
chủ trương ủng hộ Dân Chủ? Làm sao có thể nói rằng chúng ta và họ đang
sống trong cùng một đất nước?
Từ lúc ấy đến nay, không một lời nào của Hollywood nói về số phận của
những con người biến mất sau bức màn tre của Việt Nam. Không ai đề cập
đến những trại tù tập trung cải tạo mà hàng triệu chiến binh miền Nam
Việt Nam đã bị giam giữ, 56,000 người đã thiệt mạng, 250,000 bị giam hơn
6 năm, nhiều người bị giam đến 18 năm. Không người nào chỉ trích việc
cưỡng bách di dân, tham nhũng, đàn áp những người bất đồng chính kiến,
cướp đất, cướp nhà của dân hay là chế độ Công An trị mà hiện vẫn còn
đang tiếp diễn. Thêm vào đó, ngoại trừ phim Hamburger Hill có ý tốt
nhưng kém về nghệ thuật, người ta chỉ hoài công nếu muốn tìm một phim
thuộc loại có tầm vóc diễn tả các chiến binh Hoa Kỳ ở Việt Nam với đầy
đủ danh dự và trong những khung cảnh có thật.
Tại sao? Bởi vì cộng đồng làm phim, cũng như những kẻ thuộc loại đỉnh
cao trí tuệ trong xã hội, chưa bao giờ yêu thương, kính phục, hay ngay
cả thông cảm với những con người đã nghe theo tiếng gọi của đất nước,
lên đường phục vụ. Và vào lúc mà một cuộc chiến âm thầm nhưng không
ngừng nghỉ đang diễn ra về việc lịch sử sẽ ghi nhớ đất nước chúng ta
tham dự ở Việt Nam như thế nào? Những kẻ chế diễu chính sách của chính
quyền, trốn lính, và tích cực ủng hộ kẻ thù, cái kẻ thù mà sau cùng trở
nên tàn độc và thối nát, không muốn được nhớ đến như là những kẻ quá đỗi
ngây thơ và lầm lẫn.
Giữa những người dân Mỹ bình thường, thái độ của họ trong khoảng thời
gian rối ren này lành mạnh hơn nhiều. Đằng sau những tin tức bị thanh
lọc và những bóp méo về Việt Nam, thực tế là những công dân của chúng ta
đồng ý với chúng ta, những người đang chiến đấu, hơn là với những kẻ làm
suy yếu cuộc chiến đấu này. Khá thú vị là điều này đặc biệt đúng với
tuổi trẻ Mỹ, mà giờ đây vẫn còn được mô tả như là thành phần nổi loạn
chống chiến tranh.
Như được tường trình lại trong bài “Ý Kiến Quần Chúng”, những kết quả
thăm dò của Gallup từ năm 1966 cho đến khi Hoa Kỳ chấm dứt sự tham dự
chiến tranh ở Việt Nam cho thấy tuổi trẻ Mỹ thực ra ủng hộ cuộc chiến
Việt Nam lâu bền hơn bất cứ lứa tuổi khác. Ngay cả cho đến tháng 1 năm
1973, khi 68 phần trăm dân Mỹ trên 50 tuổi tin rằng chuyện gởi quân sang
Việt Nam là một sai lầm, chỉ có 49 phần trăm những người tuổi từ 25 đến
29 đồng ý. Những phát hiện này cho thấy giới trẻ nói chung rõ ràng là
không cực đoan, điều này đã được củng cố thêm bằng kết quả bầu cử năm
1972 – trong đó lứa tuổi từ 18 đến 29 ưa thích Richard Nixon hơn là
George McGovern bằng tỷ lệ 52% so với 46 phần trăm.
Tương tự như vậy, mặc dù trong quá khứ những người chống đối này, mà
ngày nay đang thống lãnh giới báo chí và giới khoa bảng, đã khăng khăng
nói ngược với thực tế, sự xâm nhập vào Cam Bốt năm 1970 đã được quần
chúng ủng hộ mạnh mẽ. Sự xâm nhập này đã gây ra sự phản đối rộng khắp ở
các sân trường đại học, kể cả một vụ xung đột làm cho bốn người chết ở
Kent State University. Theo những kết quả thăm dò dư luận của Harris gần
6 phần 10 dân Mỹ tin rằng sự xâm nhập vào Cam Bốt là đúng đắn. Đa số
được hỏi ý kiến, trong cùng bản thăm dò này vào tháng 5 năm 1970, ủng hộ
tái oanh tạc Bắc Việt, một thái độ cho thấy sự bác bỏ hoàn toàn phong
trào phản chiến.
Các cựu chiến binh Việt Nam, dù bị bôi bẩn thường xuyên trên phim ảnh,
trong các bản tin, và trong các lớp học, như là những chiến binh miễn
cưỡng và thất bại, vẫn được những người dân Mỹ bình thường tôn trọng.
Trong một nghiên cứu toàn diện nhất từ trước đến giờ về những cựu chiến
binh Việt Nam (Harris Survey, 1980, ủy quyền bởi Veterans
Administration), 73 phần trăm công chúng và 89 phần trăm cựu chiến binh
Việt Nam đồng ý với câu phát biểu: “Vấn đề rắc rối ở Việt Nam là QUÂN
ĐỘI CHÚNG TA ĐƯỢC YÊU CẦU CHIẾN ĐẤU TRONG MỘT CUỘC CHIẾN MÀ CÁC LÃNH TỤ
CHÍNH TRỊ Ở WASHINGTON KHÔNG CHO HỌ ĐƯỢC PHÉP CHIẾN THẮNG”, 70 phần trăm
những người từng chiến đấu ở Việt Nam không đồng ý với câu phát biểu:
“Những gì chúng ta gây ra cho nhân dân Việt Nam thật đáng xấu hổ.” Trọn
91 phần trăm những người đã từng phục vụ chiến đấu ở Việt Nam nói rằng
họ hãnh diện đã phục vụ đất nước, và 74 phần trăm nói rằng họ thấy thoải
mái với thời gian ở trong quân đội. Hơn nữa, 71 phần trăm những người
phát biểu ý kiến cho thấy họ sẵn sàng chiến đấu ở Việt Nam một lần nữa,
ngay cả nếu biết rằng cái kết quả chung cuộc vẫn như thế và sự giễu cợt
sẽ đổ lên đầu họ khi họ trở về.
Bản thăm dò này còn có cái gọi là “nhiệt kế đo cảm giác,” để đo lường
thái độ của công chúng đối với những nhóm người khác nhau, với thang
điểm từ 1 đến 10. Cựu chiến binh từng phục vụ ở Việt Nam được chấm điểm
9.8 trên thang điểm này. Bác sĩ được 7.9, phóng viên truyền hình 6.1,
chính trị gia 5.2, những người biểu tình chống chiến tranh 5.0, kẻ trốn
quân dịch và chạy sang Canada được cho 3.3.
Trái ngược với những câu chuyện huyền thoại được dai dẳng phổ biến, hai
phần ba những người phục vụ ở Việt Nam là quân tình nguyện chứ không
phải bị động viên, và 77 phần trăm những người tử trận là quân tình
nguyện. Trong số những người tử trận: 86 phần trăm là da trắng, 12.5
phần trăm người Mỹ gốc Phi Châu, và 1.2 phần trăm thuộc các chủng tộc
khác. Những cáo buộc rất phổ biến như là chỉ có dân thuộc các nhóm thiểu
số và người nghèo được giao cho những công tác khó khăn trong quân đội
khi ở Việt Nam là điều sai lạc. Sự bất quân bình trong cuộc chiến, thực
ra chỉ đơn giản là do những thành phần đặc quyền đặc lợi trốn tránh
trách nhiệm của mình, và chính những người này kể từ thời gian ấy đã
kiên trì bôi bẩn những kinh nghiệm về cuộc chiến để nhằm tự bào chữa cho
chính mình, phòng khi sau này sẽ bị lịch sử phán xét.
Thế còn những kẻ không những đã hiểu sai ý nghĩa một cuộc chiến, mà còn
không hiểu nổi dân tộc của mình, những kẻ thuộc thành phần tinh hoa của
xã hội đó bây giờ ra sao? Bây giờ họ đang ở đâu nếu không phải ở trong
Tòa Bạch Ốc? Trên vấn đề lịch sử quan yếu này, cái vấn đề đã xác định
thế hệ của chúng ta, họ dấu mình thật kín. Họ nên dấu mình như thế.
Đối với những kẻ đã đem cuộc hành trình tuổi trẻ đánh bạc trên cái ý
tưởng rằng tổ quốc mình là một lực lượng ác quỷ, sau khi nhận ra sự ngây
thơ của mình trong những năm sau năm 1975, chắc họ phải có một cảm giác
rất kinh khủng. Thật là sáng mắt, sáng lòng cho những kẻ đã tỉnh thức,
đã tự vượt qua được phản ứng chối tội, để chứng kiến cảnh tượng hàng
trăm ngàn người dân miền Nam Việt Nam chạy trốn “ngọn lửa tinh nguyên
của cách mạng” trên những con tàu ọp ẹp, sự chạy trốn mà chắc chắn 50
phần trăm đã vùi thây dưới đáy biển, hoặc là nhìn thấy những hình ảnh
truyền hình của hàng ngàn chiếc sọ người Cam Bốt nằm lăn lóc trên những
cánh đồng hoang, một phần nhỏ của hàng triệu người bị giết bởi những
người Cộng Sản “giải phóng quân.”
Thực vậy, chúng ta hãy thẳng thắn nhìn nhận. Thật đáng tủi nhục biết bao
khi nhìn vào khuôn mặt của một thương binh, hay là nghe diễn từ tốt
nghiệp của một học sinh thủ khoa người Mỹ gốc Việt Nam, mà người cha quá
cố của em đã chiến đấu bên cạnh những người Mỹ, cho một lý tưởng mà bọn
họ công khai mỉa mai, chế diễu, và xem thường. Và thật là một điều đáng
xấu hổ khi chúng ta có một hệ thống chính quyền đã để cho em học sinh đó
thành công nhanh chóng ở đây, mà lại không thực hiện được một hệ thống
như vậy ở quê hương của em.
James Webb
Sleeping With the Enemy
![]()
Nguồn:
http://tvvn.org/forum/entry.php?2262-Chăn-Gối-với-Kẻ-Thù-Sleeping-With-the-Enemy
BKT sưu tầm
Bấm vào đây để in ra giấy (Print)
Đăng ngày Chúa Nhật, December 25th, 2011
Ban Kỹ thuật Khóa 10A-72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND,
QLVNCH