Bấm vào đây để in ra giấy (Print)
Ngày 5 tháng 3, 1946, ông Winston Churchill
đã tuyên bố tại Fulton, Hoa Kỳ, rằng một "bức màn sắt" đã được kéo xuống
giữa Đông Âu và Tây Âu; đồng thời tổng thống Truman cũng đã cương quyết
tuyên bố rằng trong "trường hợp đặc biệt" ông ta có thể xử dụng đến bom
nguyên tử. Lời tuyên bố của tổng thống Truman được dư luận báo chí Hoa
Kỳ và giới quân sự ủng hộ mạnh mẽ về việc nên phát động một cuộc chiến
tranh chớp nhoáng để hạ bệ Liên Xô, nhất là khi Hoa Kỳ đang còn giữ độc
quyền về bom nguyên tử, và không quân Hoa Kỳ được tiếng là mạnh nhất
hoàn cầu. Thế rồi trong những năm kế tiếp đó, lần lượt các nước Đông Âu
như Ba Lan, Tiệp Khắc, Hung Gia Lợi, Bảo Gia Lợi đều bị đặt dưới chế độ
Cộng Sản, làm cho Hoa Kỳ và các nước Tây Âu lo ngại vô cùng.
Ngày
6 & 9 năm 1945, hai ngày quan trọng nhất đánh dấu một khúc quanh trong
lịch sử nhân loại, với sự xuất hiện lần đầu tiên của vũ khí hạch tâm,
làm thay đổi hẳn cách suy tư của con người trước và sau cuộc oanh tạc
Hiroshima và Nagasaki.
Lẽ dĩ nhiên những thay đổi đó không xuất hiện ngay, mặc dầu lúc đó nhân
loại cảm thấy rất bàng hoàng trước sự tiêu hủy hai thị trấn lớn của Nhật
Bản kéo theo sự chết chóc của hàng trăm ngàn thường dân vô tội. Và cũng
không có ai có thể tưởng tượng rằng hai quả bom nguyên tử đó có thể đánh
dấu sự chấm dứt cuộc thế chiến thứ hai đồng thời mở màn cho cuộc "chiến
tranh lạnh" (The Cold War ) giữa hai thế giới Tự Do và Cộng Sản, kéo dài
thêm 46 năm nữa!
Đó cũng là lúc mà một số lớn phóng pháo cơ có tầm bay xa của Hoa Kỳ được
các nước bạn Tây Âu chấp nhận cho lập căn cứ trên lãnh thổ của họ bao
quanh Liên Bang Xô Viết. Nhưng về lâu về dài sự có mặt của không quân
Hoa Kỳ trên các lãnh thổ bạn đã đặt ra cho giới quân sự cũng như cho các
chính khách Hoa Kỳ một vấn đề điên đầu khác, mỗi khi có sự xáo trộn hay
thay đổi chế độ chính trị tại các nước bạn có căn cứ không quân của Hoa
Kỳ. Và cũng vì vậy mà chiến lược quân sự của Hoa Kỳ phải uyển chuyển
thay đổi với thời gian, nhất là khi các chuyên gia của Ngũ Giác Đài nhận
thấy rằng Hải Quân Hoa Kỳ có một tiềm năng hoạt động vô cùng to lớn, khi
được dùng làm dàn phóng các loại vũ khí nguyên tử.
Ý định dùng biển cả làm dàn phóng vũ khí nguyên tử được cụ thể hóa qua
đề nghị của ủy ban "Poseidon" vào năm 1957, và kể từ đó cho đến ngày
nay, đối với các nhà quân sự Hoa Kỳ, đại dương - với hơn 14 triệu cây số
vuông - đã trở thành những dàn phóng hỏa tiễn nguyên tử vô cùng vĩ đại
của họ.
Dưới thời Stalin, dự tính của chính quyền Xô Viết là sản xuất 1200 chiếc
tiềm thủy đỉnh, nhưng sau khi Krouchtchev lên nắm quyền thì chỉ
đóng được 240 chiếc thuộc loại "K" hay "Whisky" theo Tây Phương; và đến
đợt sau, loại "Roméo", thì chỉ sản xuất được có 20 chiếc thay vì 560
chiếc được dự tính vì thiếu hụt ngân sách.
Chính Stalin - vào cuối thập niên 1940 - cũng đã nhận thấy tầm mức quan
trọng mà nguyên tử và biển cả sẽ đóng một vai trò nổi bật trong tương
lai, và đưa địa vị của tàu ngầm lên hàng đầu trong cuộc tranh chấp quyết
liệt một mất một còn giữa hai khối thế giới Tự Do và thế giới Cộng Sản.
Để bắt cho kịp Hoa Kỳ trong lãnh vực này với nhiều năm cách biệt, Stalin
đã phát động cấp kỳ một chương trình quân sự trong lãnh vực nguyên tử,
hy sinh hẳn chương trình phát triển kinh tế và tăng gia sản xuất của
Liên Xô trong nhiều thập niên qua. Nhưng đây chỉ là một lối biện minh
của các nhà kinh tế học Liên Xô để bào chữa cho sự thất bại của tất cả
các chương trình khuếch trương kinh tế của họ nói riêng và của toàn thể
thế giới Cộng Sản nói chung, do căn bệnh trầm kha của chế độ tạo ra và
cũng đã được ghi vào xương, khắc vào tủy của mọi người cán bộ Cộng Sản,
đó là tham nhũng thối nát, buôn quan bán tước và bóc lột nhân dân đến
tận xương tủy, không chút nương tay.
Trong
lịch trình phát triển hạm đội tiềm thủy đỉnh nguyên tử, Hải Quân Liên Xô
bao giờ cũng tụt hậu từ 4 đến 5 năm đối với Hải Quân Hoa Kỳ. Lúc tàu
ngầm nguyên tử Nautilus của Hoa Kỳ bắt đầu hoạt động vào năm 1954, thì
tàu ngầm K3 của Liên Xô, tương đương với chiếc Nautilus, chỉ bắt đầu
hoạt động vào năm 1958.
Chiếc George Washington, tàu ngầm nguyên tử đầu tiên của Hoa Kỳ được
trang bị hỏa tiễn "Polaris" và hạ thủy năm 1960, còn chiếc K19 của Liên
Xô, tương đương với chiếc George Washington, thì đang được thử máy cũng
trong năm ấy.
Tuy nhiên, mãi cho đến năm 1967, thì Liên Xô mới có được tàu ngầm phóng
hỏa tiễn loại "Yankee", nhưng Liên Xô vẫn không chế được loại hỏa tiễn
có nhiên liệu đặc như hỏa tiễn "Polaris" của Hoa Kỳ và đành phải dùng
nhiên liệu lỏng rất là nguy hiểm cho sự an toàn của tàu ngầm và tầm hỏa
tiễn của Liên Xô chỉ đi xa tối đa 3000 cây số.
Thành thử muốn phóng hỏa tiễn vào những mục tiêu trên nội địa Hoa Kỳ,
thì tàu ngầm Liên Xô phải vượt qua bao nhiêu hàng rào chống tàu
ngầm đặt dưới biển, đồng thời phải tránh cho được sự phát hiện của các
tàu tuần tiểu Hải Quân và Không Quân được trang bị những máy móc tối tân
nhằm mục tiêu phát giác sự hiện diện của những tàu ngầm lạ đang xâm nhập
hải phận Hoa Kỳ.
Trong đợt hai về loại tàu ngầm phóng hỏa tiễn của Liên Xô - loại Delta -
thì mỗi tàu mang được 12 hỏa tiễn liên lục địa có thể từ Liên Xô bắn tới
nội địa Hoa Kỳ. Lúc bấy giờ Liên Xô đã chế được nhiên liệu đặc, nhưng
phải mất một thời gian khá dài mới đạt được kết quả mong muốn.
Vẫn theo lời tuyên bố của chính quyền Xô Viết thì đến năm 1981 - với sự
xuất hiện trong đợt ba - của loại tàu ngầm Typhoon, thì lực lượng về
phẩm cũng như về lượng của Hoa Kỳ và Liên Xô tương đương nhau.
Nhưng theo ý kiến của các chuyên gia Tây Phương về Hải Quân, tàu ngầm
của Hoa Kỳ bỏ xa Liên Xô trong hai lãnh vực vũ khí và phát hiện, vì tàu
ngầm của Hoa Kỳ - hầu như không có tiếng động khi di chuyển, nên rất khó
bị phát giác.
Hơn
thế nữa, tàu ngầm Hoa Kỳ chỉ dùng phương pháp lắng nghe thụ động để tìm
tàu địch chứ không dùng hệ thống phản âm để dò tung tích đối phương cho
nên không bị tàu địch phát hiện.
Về lãnh vực này, vào cuối thập niên 70, Hoa Kỳ đã "gạt" Liên Xô bằng
cách bán cho công ty điện tử Toshiba của Nhật một hệ thống "tối tân" máy
móc để trang bị cho tàu ngầm chạy cho khỏi kêu, với điều kiện là không
được bán tài liệu này cho bất cứ một quốc gia nào, nhưng với dụng ý là
để cho công ty Toshiba bán lén lại cho Liên Xô.
Và "cá Liên Xô" đã cắn phải lưỡi câu của "ngư ông Hoa Kỳ"; nhưng sau đó
thì Hoa Kỳ - giả bộ làm rùm beng - việc công ty Toshiba đã bội ước lời
cam kết và đòi kiện hãng này.
Thế rồi chuyện gì phải đến đã đến. Vài năm sau, nhà nghiên cứu nổi tiếng
Hoa Kỳ, ông T. Stefanik - sau khi nghiên cứu kỹ càng và tỷ mỹ về thành
tích của hai chiếc tàu ngầm tối mật Los Angeles (Hoa Kỳ) và Victor III
(Liên Xô) đã công bố kết quả sưu tầm của ông ta như sau: trong những
điều kiện hàng hải tương tợ về chiều sâu tối đa, tàu ngầm của Hoa Kỳ bị
phát hiện khi tàu săn cách chiếc tàu này khoảng từ 1 đến 25 hải lý.
Còn đối với tàu ngầm của Liên Xô thì khoảng cách bị tàu săn phát hiện là
từ 20 đến 500 hải lý; nếu nói một cách nôm na thì tàu ngầm của Liên Xô -
khi xê dịch - phát ra tiếng động ồn ào không khác gì người ta khua một
chiếc thùng thiết rỗng. Không biết sau vụ nghiên cứu của ông T.
Stefanik, tình báo Hoa Kỳ có ngầm thưởng cho công ty Toshiba của Nhật
Bản một ít "tiền còm" hay không?
Thế rồi cách đây hai năm, Trung Cộng lại làm trò cười cho toàn thế giới
bằng cách ra lệnh cho một chiếc tàu ngầm của họ - mua lại của Nga - theo
dõi một chiếc hàng không mẫu hạm của Hoa Kỳ đang di chuyển trong vùng
Hoàng Hải, giữa Đại Hàn và Nhật Bản.
Tiếng động của chiếc tàu ngầm Trung Cộng quá to trong máy nghe của chiếc
hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ khiến chuyên viên kiểm thính của tàu này phải
vặn bớt cường độ của ống nghe để khỏi bị đinh tai nhức óc, một hành động
ngược lại làm cho mọi người đều ngạc nhiên khi thấy khả năng kỹ thuật
của Nga và Trung Cộng - đàn anh trong khối Cộng Sản - lại quá tầm thường
như vậy.
Nếu một cuộc chiến tranh nguyên tử được phát động từ một căn cứ chỉ huy
của một trong hai quốc gia đặt trên không gian hay trong một tàu ngầm
nguyên tử chiến lược phóng hỏa tiễn ẩn sâu dưới lòng biển cả, thì chiến
tranh sẽ được chấm dứt sau khi dàn hỏa tiễn đầu tiên được khai hỏa.
Vì theo máy tính của các chuyên gia Hoa Kỳ cũng như Liên Xô lúc bấy giờ,
thì hỏa lực của một chiếc tàu ngầm chiến lược được trang bị
hỏa tiễn có mang đầu đạn nguyên tử cũng đủ để tiêu diệt hoàn toàn mọi sự
sống trên quả đất này.
Vì ý thức được nguy cơ do tàu ngầm phóng hỏa tiễn gây ra cho cả đôi bên
nên Liên Xô và Hoa Kỳ bắt buộc phải cùng nhau thương thuyết để đi đến
việc hạn chế sản xuất một số lượng nhất định về loại tàu ngầm này.
Cả hai quốc gia đã đi đến việc ký kết thỏa ước SALT-1, qui định mỗi bên
chỉ được quyền sản xuất tối đa 41 tàu ngầm loại này, mỗi chiếc trang bị
16 hỏa tiễn mang đầu đạn nguyên tử.
Tuy nhiên thỏa ước SALT-1 vẫn không ngăn chận được cuộc chạy đua võ
trang được mệnh danh "Chiến Tranh Không gian" được phát động dưới trào
tổng thống Reagan và phương pháp hữu hiệu nhất để phòng ngừa việc xử
dụng vũ khí hạch tâm là phải cho tàu ngầm tuần thám thường xuyên trên
biển cả.
Trong thập niên 80, Hải Quân Hoa Kỳ đã đặt ra một hệ thống tuần phòng và
đồn trú ngay dưới lòng đại dương để phòng bị trường hợp Liên Xô trở mặt
tấn công bất ngờ Hoa Kỳ; và kể từ đó, lực lượng tàu ngầm chiến lược loại
"Trident" đều được trang bị 24 hỏa tiễn, mỗi hỏa tiễn mang một số đầu
đạn nguyên tử được điều khiển tự động. Để xác quyết những tính toán của
các chuyên gia thuộc hai cường quốc Hoa Kỳ và Liên Xô thời bấy giờ,
chúng ta cũng nên tìm hiểu thành tích của một trong những tàu ngầm "quái
vật" nguyên tử khổng lồ này, chiếc tàu ngầm thuộc loại "OHIO" của Hải
Quân Hoa Kỳ.
Chiếc tàu này dài 170 mét và rộng 12.8 mét, có tầm nước 18,700 tấn. Công
suất 60,000 mã lực của lò phản ứng hạt nhân của loại tàu này đã đưa tốc
độ tàu lên đến 25 hải lý một giờ, và lặn sâu tối đa là 300 mét. Thủy thủ
đoàn trên tàu gồm có 170 người kể cả 16 sĩ quan.
Điều quan trọng là vũ khí của tàu này. Những ống phóng hỏa tiễn của một
chiếc tàu "Ohio" này không thôi, có hỏa lực mạnh bằng hỏa lực được xử
dụng trong 8 cuộc đệ nhị thế chiến. Khi một chiếc tàu ngầm "OHIO" phóng
hết tất cả dàn hỏa tiễn mà họ mang theo, thì khi đó trên quả đất này mọi
sinh linh đều bị tiêu diệt và chỉ còn lại "mùa đông nguyên tử".
Từ
1990, những chiếc tàu ngầm này đều được trang bị 24 hỏa tiễn liên lục
địa "Trident II", mỗi hỏa tiễn mang từ 9 đến 14 đầu đạn nguyên tử, mỗi
đầu đạn có công suất 475 kilô-tấn.
Chỉ một hỏa tiễn cũng đủ biến một vùng rộng bao la bát ngát thành một
biển lửa kinh hoàng. Tầm đạn đạo của một hỏa tiễn đi xa 11,000 cây số
với độ chính xác sai khoảng 100 mét, nên được dùng để tiêu hủy - bất cứ
ở nơi đâu - các hầm phóng hỏa tiễn của địch. Thành thử công dụng hữu
hiệu nhất của loại hỏa tiễn này là phá hủy ngay các dàn phóng hỏa tiễn
của địch trước khi địch có đủ thời giờ để phóng hỏa tiễn qua bên đất của
ta.
Để đối phó lại loại tiềm thủy đỉnh "OHIO" của Hoa Kỳ - trong thập niên
1980 - Liên Xô đã bí mật chế ra loại tiềm thủy đỉnh "TYPHOON", được đặc
biệt trang bị để có thể hoạt động dưới băng sơn ở miền Bắc Băng Dương.
Dài 170 mét, rộng 25 mét và cao 26 mét (không kể dây trời và tiềm vọng
kính), loại "Typhoon" này có một tầm nước đặc biệt 25,000 tấn. Đó là
loại tàu ngầm lớn nhất được chế tạo trên hoàn cầu này và chiếm một diện
tích lớn gần bằng 2 sân đá banh.
Nhưng có một điểm mà ít ai lưu ý đến, là trong ngành chế tạo tiềm thủy
đỉnh, kỹ thuật đóng tàu càng cao thì tàu được chế ra lại càng nhỏ và
càng hữu hiệu. Sở dĩ kỹ thuật đóng tàu của Liên Xô đang còn thô sơ nên
họ không thể nào chế tạo được những chiếc tiềm thủy đỉnh nhỏ và hữu hiệu
như của Hoa Kỳ, nên bắt buộc họ phải đóng những chiếc tàu lớn dễ bị phát
hiện lúc lặn sâu dưới lòng biển cả.
Vì tàu này quá lớn và để cho được an toàn khi lặn sâu dưới biển, nên
thân tàu có hai vỏ bằng chất titanium và có đường kính vào khoảng 10
mét. Tàu ngầm này được trang bị 2 bộ ắc quy, mỗi bộ có công suất 190
ngàn watts và 2 tua-bin (turbine) 80,000 mã lực mỗi một chiếc dùng để
vận chuyển tiềm thủy đỉnh có thể lặn sâu mà vẫn giữ tốc độ 30 hải
lý/giờ.
Loại tiềm thủy đỉnh này có thể làm vỡ mặt băng dày hơn một mét để nổi
lên trên mặt bể vùng Bắc Cực, hoặc có thể lặn sâu hàng trăm mét dưới bể
trong khoảng thời gian vô hạn định. Đời sống của thủy thủ trong tiềm
thủy đỉnh này giống như trong một cao ốc 6 tầng. Thủy thủ đoàn gồm có 50
sĩ quan, 80 hạ sĩ quan và 40 thủy thủ, được phân phối trong những phòng
có từ 2 đến 4 giường, có bàn rửa mặt, máy điều hòa không khí, có TV,
video, có kệ để sách và một bàn giấy. Ngoài ra trong tàu cũng có hồ bơi
và có cả lồng chim nuôi các con vẹt.
Lần đầu tiên trong lịch sử tiềm thủy đỉnh của Liên Xô, những tàu ngầm
này giờ đây mới được trang bị hỏa tiễn có nhiên liệu đặc. Mỗi tàu ngầm
có 20 hỏa tiễn RMS52, mỗi hỏa tiễn nặng 100 tấn, cao 16 mét và có đường
kính 2.5 mét và có thể phá hoại một mục tiêu cách xa 9000 cây số.
Có một điểm mà giới đóng tàu ngầm nguyên tử của Liên Xô tránh né không
dám nói ra là - thay vì rút những khuyết điểm được tìm thấy trong những
tàu ngầm được đóng trước đây để mà tránh phạm phải những lỗi lầm cũ -
chiếc "Typhoon" tối tân này, vẫn được ban vẽ kiểu giữ y nguyên những lỗi
lầm cũ.
Một số chuyên viên về tàu ngầm nguyên tử đã thấy được những khuyết điểm
nêu trên từ lâu, nhưng không dám nói ra vì sợ mang họa vào thân, trong
đó có Phó đô đốc Nicolai Mormoul. Theo họ thì vì kỹ thuật đóng tàu ngầm
của Liên Xô kém nên họ không thể đóng tàu ngầm nhỏ mà thành tích hữu
hiệu giống như tàu ngầm Hoa Kỳ; vì vậy bắt buộc họ phải đóng tàu ngầm
lớn, nặng nề thì mới có thể coi như hữu hiệu như tàu ngầm nhỏ nhưng bền
chắc của Hoa Kỳ.
Thế rồi kết luận "ngầm" của giới chuyên gia Liên Xô là chính quyền Xô
Viết đóng những tàu ngầm vĩ đại này với mục đích giúp cho tàu ngầm Hoa
Kỳ dùng những chiếc tàu ngầm khổng lồ này làm "tàu mục tiêu" để Hoa Kỳ
có tàu dùng huấn luyện chuyên viên tàu ngầm của họ.
Trong giai đoạn thử máy của loại tàu ngầm khổng lồ này, các chuyên viên
khám phá vô số khuyết điểm nhất là về tiếng động quá lớn khi tàu này di
chuyển, có thể nói mười mấy lần lớn hơn dự trù, đó là chưa kể những ống
phóng ngư lôi lại không đúng cỡ với ngư lôi. Tuy nhiên ban tiếp thu vẫn
chấp nhận cho thông qua tất cả mọi khuyết điểm và biên bản tiếp thu tàu
ngầm này là một chuỗi dài "bốc thơm" những tai to mặt lớn của chính
quyền Liên Xô có dính líu không nhiều thì ít đến việc sản xuất loại tàu
này, để sau này họ được nhà nước Liên Xô cho huy chương ban khen, kể cả
tưởng thưởng về hiện kim nữa!
Thế rồi phải chờ đến khi đóng xong chiếc tàu ngầm "Typhoon" thứ 6 - và
có sự vận động tận lực - của thống chế Ogarkov và đô đốc Amelko mới đình
chỉ hẳn việc đóng những chiếc tàu ngầm khổng lồ và tốn kém này.
Trong khi đề cập đến hiểm họa do những chiếc tàu ngầm này gây nên, ông
C. Eggert, Chủ Tịch Hội Đồng Tham Mưu Liên Quân Hoa Kỳ đã cho biết ý
kiến của ông như sau: "Tôi nghĩ rằng mọi ngành trong quân đội Liên Xô
chỉ là một nguồn chi tiêu ngân quỹ vĩ đại hơn là một đe dọa đối với thế
giới bên ngoài. Đó là một gánh nặng mà nhân dân Nga phải gánh chịu và
cũng là một trở ngại rất lớn trong việc phát triển đất nước của họ". Và
có người hài hước nêu ra ý kiến - muốn biết rõ kỹ thuật thực sự về ngành
Hải Quân của quân đội Liên Xô - chỉ cần nhìn vào việc một anh chàng
người Đức trẻ tên Mathias Rust, đã vượt qua những dàn rađa bao quanh
Liên Xô, và cho chiếc phi cơ của hắn ta đáp xuống ngay "Công Trường Đỏ",
giữa thủ đô Mạc Tư Khoa mà không bị lực lượng phòng không của Liên Xô,
dưới trào Brejnev, phát hiện và báo động.
Từ 1963 đến nay, Hải Quân Hoa Kỳ mất 2 chiếc tàu ngầm nguyên tử, chiếc
thứ nhất Thresher chìm ở ngoài khơi Mỏm Cod ngày 10 tháng 4, 1963. Chiếc
thứ hai là chiếc Scorpion, biệt tăm từ khoảng 21 đến 27 tháng 5, 1968
cách Tây Nam quần đảo Acores khoảng 400 hải lý. Và từ bấy đến nay không
có một chiếc tàu ngầm nguyên tử nào bị mất tích thêm nữa.
Tại sao Hoa Kỳ chỉ có 2 chiếc tàu ngầm bị mất tích, và sau 1968 thì
không có chiếc tàu ngầm nào bị đắm nữa; trong khi đó thì hạm đội tàu
ngầm nguyên tử của Liên Xô rồi đến Nga vẫn bị hoặc đắm hoặc mất tích dài
dài cho đến những năm gần đây? Lý do đơn giản và rất dễ hiểu là vì Hoa
Kỳ biết sửa chữa ngay những sai lầm trong khi đóng những tàu mới của họ;
còn Liên Xô thì vì các chuyên viên đóng tàu muốn tranh thủ thời gian để
được cấp trên khen thưởng, chứ họ không bao giờ chịu lưu ý đến vấn đề an
ninh của thủy thủ đoàn điều khiển chiếc tàu!
Trong 40 năm qua, càng ngày người ta thấy càng nhiều tàu chạy bằng
nguyên tử qua lại trên biển cả, ở khắp năm châu. Từ đầu thập niên 50 cho
đến nay, Liên Xô đã đóng 235 tiềm thủy đỉnh nguyên tử, đó là chưa kể hơn
300 tiềm thủy đỉnh chạy bằng dầu cặn, cộng thêm 2 tuần dương hạm hạng
nặng mang dàn phóng hỏa tiễn nguyên tử và 6 chiếc tàu phá băng nguyên
tử.
Về phía Hoa Kỳ đã sản xuất 150 tiềm thủy đỉnh nguyên tử và 18 tiềm thủy
đỉnh chạy bằng dầu cặn, 6 hàng không mẫu hạm và 9 tuần dương hạm, tất cả
đều chạy bằng nguyên tử. Anh quốc có 18 tiềm thủy đỉnh nguyên tử trong
đó có 4 chiếc được trang bị dàn phóng hỏa tiễn nguyên tử;
Trung Cộng có 10 chiếc tiềm thủy đỉnh mua lại của Liên Xô và Pháp có 9
tiềm thủy đỉnh nguyên tử.
Trái lại hạm đội tàu ngầm nguyên tử của Nga (từ Liên Bang Xô Viết cho
đến nước Nga ngày nay) đã có 8 chiếc tàu ngầm nguyên tử bị đắm, lẫn mất
tích:
Ngày 11 tháng 4, 1968 một chiếc tàu ngầm nguyên tử trang bị 5 hỏa tiễn
nguyên tử, mất tích trên Thái Bình Dương, cách đảo Hawaii 750 hải lý về
hướng Tây Bắc. Cũng trong năm này, một chiếc tàu ngầm khác có trang bị 4
hỏa tiễn nguyên tử, đã mất tích về mạn Đông Bắc của Đại Tây Dương.
Ngày 12 tháng 4, 1970, cách bờ bể Bretagne của nước Pháp khoảng 700 hải
lý. Cũng trong ngày ấy, một tàu ngầm nguyên tử của Liên Xô bị mất tích
trong vùng Đông Bắc Đại Tây Dương, tàu này có trang bị 4 hỏa tiễn nguyên
tử.
Vào tháng 6, 1983 một chiếc tàu ngầm có trang bị 8 hỏa tiễn nguyên tử đã
bị mất tích ngoài khơi bán đảo Kamtchatka.
Ngày 4 tháng 10, 1986 một chiếc tàu ngầm nguyên tử khác của Liên Xô có
trang bị hỏa tiễn nguyên tử, đã chìm trong vùng Đông Bắc của vùng
Bermuda, Thái Bình Dương.
Ngày 7 tháng 4, 1989 tiềm thủy đỉnh nguyên tử có trang bị hỏa tiễn
nguyên tử, chiếc Komsomolets đã chìm cách bờ bể Na Uy 150 hải lý, về
phía Tây Nam đảo Medvezhy.
Và chiếc tiềm thủy đỉnh nguyên tử Kursk đã bị đắm vì ngư lôi nổ trong
một cuộc tập trận trong vùng hải cảng Mourmansk thuộc miền Bắc nước Nga
vào cuối năm 2000.
Trong đám sĩ quan hải quân cao cấp của ngành tàu ngầm nguyên tử Liên Xô,
đặc biệt có Phó Đề Đốc Nicolai Mormoul là người có gan lỳ và có công tâm
vạch ra tất cả những khiếm khuyết do ông ta phát hiện trong khi ông làm
nhiệm vụ tiếp nhận những tàu ngầm nguyên tử vừa mới đóng xong.
Cũng vì ông ta là một người trực tánh và không sợ nói thật, nên ông ta
đã mang họa vào thân mặc dầu anh em bè bạn thân thiết trong giới Hải
Quân đã nhiều phen khuyên ông ta không nên quá thẳng thắn trong việc bới
lông tìm vết khi ông ta đứng ra tiếp nhận những chiếc tàu ngầm nguyên tử
vừa mới đóng xong, vì làm như vậy - không trước thì sau - thế nào ông ta
cũng sẽ bị tập đoàn Mafia quân đội và chuyên gia kỹ thuật lập kế hại
ngầm vì ông ta đã cản trở việc "làm ăn" của chúng. Thế rồi việc gì phải
đến đã đến với Phó Đề Đốc Nicholai Mormoul.
Tập đoàn Mafia quân đội và chuyên gia kỹ thuật Nga đã ngấm ngầm vận động
Bộ Chính Trị trong quân đội vu khống cho Phó Đề Đốc Nicholai Mormoul tội
ăn cắp rượu cồn của quân đội - nhưng không có bằng chứng - tuy nhiên ông
ta vẫn bị tòa án tuyên án 10 năm tù ở và bị tước mọi chức tước trong
quân đội, vào năm 1983, dưới trào Andropov làm Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản
Liên Xô.
Chính quyền đã phải triệu tập tòa án xét xử Phó Đề Đốc Nicholai Mormoul
trong một nhà lao để không cho phóng viên báo chí theo dõi. Và phải đợi
đến khi Gorbatchev lên cầm quyền, và với sự vận động không ngừng của bạn
bè trong quân ngũ cũng như giới khoa học gia có tên tuổi trong lãnh vực
khoa học quốc tế, ông ta mới được phóng thích trước thời hạn qui định
trong bản án, vào ngày 2 tháng 3, 1989 sau khi nằm trong nhà tù 5 năm 4
tháng và 5 ngày, theo lời tuyên bố chua chát của ông ta với báo chí.
Sau khi ra tù, cựu phó đề đốc Nicholai Mormoul bị tước hết chức tước
trong quân đội và đành phải đi làm nghề thợ điện thường tại hải cảng
Mourmansk để kiếm tiền nuôi sống gia đình mặc dầu ông ta là một khoa học
gia có tên tuổi trên trường quốc tế, trong lãnh vực khoa học nguyên tử.
Khi được báo chí phỏng vấn, cựu phó đề đốc Nicholai Mormoul cho biết là
đã đến lúc tôi thấy cần phải lên tiếng. Sở dĩ trước tháng 8, 1991, tôi
sống trong tình trạng của một tù nhân được phóng thích trước thời hạn và
có thể bị bắt trở vào tù lại bất cứ lúc nào. Nhưng nay thời hạn đó đã
triệt tiêu rồi và tôi phải lên tiếng vì tôi đã từng tuyên thệ trung
thành với đồng bào tôi, chứ không phải trung thành với lũ người lãnh đạo
đất nước vô trách nhiệm.
Năm năm sống trong ngục tù đã giết chết mọi sợ sệt trong tôi vì tôi thấy
những kinh nghiệm bản thân tôi có thể giúp ích cho những thế hệ tới đây
kể cả cho tất cả nhân loại nữa. Tôi phải lên tiếng để vinh danh cho
những bạn đồng ngũ của tôi đã bỏ mình trong vô số tai nạn đã xảy ra
trong hạm đội tiềm thủy đỉnh của Liên Xô. Tôi tưởng nhớ đến những người
bạn đã âm thầm bỏ mình trong thầm lặng được nhà cầm quyền bưng bít và
dấu kín đến nỗi mãi cho đến ngày nay tên tuổi của họ không hề được ghi
trên bất cứ một đài kỷ niệm nào trên đất nước này. Họ đã chết vì họ là
nạn nhân của sự bất cẩn, sự thờ ơ của nhà cầm quyền. Muốn ý thức được sự
can đảm vô bờ bến của những người thủy thủ vô danh này, ta cần phải luôn
luôn ghi nhớ là họ đã phải sống trong một môi trường được bao bọc bởi
những tia phóng xạ nguyên tử, mà nếu quá mức sẽ trở thành những tia
phóng xạ giết người. Kể từ tháng 8, 1945 tên Hiroshima - một thị trấn
Nhật Bản đã bị tiêu hủy vì bom nguyên tử - đã trở thành tên của đơn vị
phóng xạ giết người. Quả bom nguyên tử ném xuống Hiroshima đã giết chết
138,700 người; chưa kể đến hàng chục ngàn nạn nhân bị nhiễm phóng xạ của
quả bom nguyên tử này. Rồi đến tháng 4, 1986 vụ nổ nhà máy điện nguyên
tử Tchernobyl tại Liên Xô đã biến một vùng đất có 5 triệu cư dân thành
một vùng bị tia phóng xạ làm ô nhiễm và nguy hiểm cho tánh mạng của cư
dân trong nhiều thập niên tới đây. Chỉ riêng cho năm 1992, đã có 12,000
người bỏ mình vì nhiễm độc của tia phóng xạ; đó là chưa kể trong 600,000
người đứng ra cứu trợ nạn nhân thì hết 200,000 đã bị coi như nhiễm xạ
rất nặng.
Đối với Liên Xô, chiến cụ thuộc vào loại sản phẩm đặc biệt ưu tiên.
Trong thời gian gần 70 năm qua, nền kinh tế của đất nước đã bị hy sinh
cho ngành quốc phòng. Mặc dầu dưới triều đại Brejnev, chính quyền Liên
Bang Xô Viết vẫn luôn luôn rêu rao là cần phải có chính sách tiết kiệm
về kinh tế, nhưng khi đề cập đến nền kỹ nghệ quốc phòng thì mọi tiêu
chuẩn sinh lợi đều bị gạt bỏ. Cứ lấy một thí dụ cụ thể thì rõ: việc bảo
trì toàn bộ một tiềm thủy đỉnh phải tốn từ 25 đến 32 triệu đồng Rúp (đơn
vị tiền tệ của Liên Xô ), trong khi đó thì đóng một chiếc tiềm thủy đỉnh
mới chỉ tốn vào khoảng 36 triệu đồng Rúp thôi.
Cho đến giờ phút này, tất cả mọi chiến cụ đều được nghiên cứu trong hàng
trăm văn phòng hoặc viện nghiên cứu gồm toàn tinh hoa trong
giới kỹ sư và chuyên viên. Hàng ngàn tổ chức kinh doanh được chính quyền
giao phó công tác nghiên cứu tất cả mọi loại chiến cụ sẽ được xử dụng,
bất chấp vấn đề sinh lợi, thời giá hay giá vốn vì tiêu chuẩn của chiến
cụ luôn luôn phải là hạng nhất. Trên lý thuyết, một hệ thống chọn lựa và
kiểm soát chi ly như vậy nhất định phải giảm thiểu tối đa những sự rủi
ro có thể xảy đến.
Nhưng trong thực tế thì sự thật rất là phũ phàng vì hàng trăm tai nạn đã
xảy ra trên các tiềm thủy đỉnh nguyên tử của Liên Xô và 8 chiếc đã bị
chìm; đó là chưa kể hàng trăm thủy thủ sống dở chết dở vì bị nhiễm xạ
nặng, trong khi đó thì thiệt hại vật chất lên đến hàng tỷ đồng Rúp.
Sau khi 2 chiếc tiềm thủy đỉnh của Hoa Kỳ là chiếc Thresher và chiếc
Scorpion bị đắm thì các kỹ sư Liên Xô G. Lissov và A. Narousbaiev rồi
đến Viện Hải Quân Liên Xô đã có ấn hành 2 quyển sách nghiên cứu về tai
nạn xảy đến cho hai chiếc tiềm thủy đỉnh này và kết luận của họ là Hoa
Kỳ - "vì muốn tranh thủ thời gian để giảm bớt phí tổn - nên đã khiếm
khuyết trong việc chú trọng đến sự an toàn của thủy thủ đoàn". "Rất tiếc
là Liên Xô - nói thì hay mà ra tay thì dở - vì Liên Xô cũng phạm những
lỗi lầm ghi trên đây của Hoa Kỳ - vì không ai dám lên tiếng báo động với
thượng cấp vì sợ mang họa vào mình như bản thân của tôi đây", và đó là
lời kết luận của cựu phó đô đốc Nicholai Mormoul, nay chỉ còn là một anh
thợ điện - sau khi mãn tù - vì ông ta đã bị chính quyền Liên Xô tước hết
chức tước và ngay cả huy chương "Anh Hùng Dân Tộc Liên Xô" của ông ta.
Với Hoa Kỳ, không bao giờ hạm đội tiềm thủy đỉnh nguyên tử lại được cất
giữ trong một hải cảng mật như ở Liên Xô vì họ thấy không cần thiết.
Biển cả khắp hoàn cầu với hơn 14 triệu cây số vuông cũng đủ dư sức để
cho cho họ tiềm phục mấy chục chiếc tiềm thủy đỉnh chiến lược - hầu như
không có tiếng động - ở dưới lòng đại dương, khắp mọi nơi trên thế giới,
một cách an toàn, vì Nga không có đủ phương tiện vật chất để phát giác
sự có mặt của họ.
Nếu vạn nhất có xảy ra chiến tranh giữa Hoa Kỳ và Nga, thì chỉ trong
những phút đầu thôi, những đầu đạn nguyên tử của Hoa Kỳ đã biến tất cả
các tàu ngầm - khua ồn ào như thùng rỗng của Nga, các hầm chứa hỏa tiễn
nguyên tử trên đất liền của Nga thành ra tro bụi và nước Nga - khi đó đã
trở thành hoang địa - thì còn đâu có cơ hội để gọi là trả đũa lại Hoa
Kỳ?
Cho đến giờ này, hải quân của nước Nga có được 6 tiềm thủy đỉnh loại
"Typhoon" bắt đầu hoạt động kể từ tháng 9, 1980; so với Hoa Kỳ có 12
chiếc "Ohio".
Hải cảng riêng cho loại tàu ngầm "Typhoon" đặt tại Nerpitchia, cách
Zapadnaia Litsa 14 cây số, gần hải cảng Mourmansk. Và điểm đặc biệt là
địa danh Nerpitchia không được ghi trên bản đồ hàng hải của Nga.
Năm
1982, trước khi đô đốc Hymen Rickover về hưu, Quốc Hội Hoa Kỳ có thảo
luận một đạo luật tặng cho chức đô đốc Hải Quân của ông thêm một ngôi
sao thứ năm nữa và nếu Hoa Kỳ có dự trù đóng thêm một chiếc hàng không
mẫu hạm nguyên tử nữa, thì chiếc đó sẽ được mang tên của ông.
Và đứng trước Quốc Hội Hoa Kỳ, ông đã can đảm trình bày nội tâm xao
xuyến của ông trước hiểm họa nguyên tử trong tương lai.
Ông nói: "Tất cả chúng ta đều quên rằng chúng ta đang chuẩn bị gieo một
tai ương cho nhân loại mà chỉ cứu vãn được khi chúng ta chấm dứt, không
còn sản xuất tất cả các loại vũ khí nữa. Và nếu thượng đế ban cho tôi
cái quyền đó, thì tôi sẽ ra lệnh đánh đắm tất cả các tiềm thủy đỉnh do
tôi chế tạo, không chừa lại một chiếc nào. Phải thành thật mà nói, tôi
không hãnh diện tý nào cả về thời gian dài tôi ở trong quân ngũ của Hải
Quân Hoa Kỳ!"
Dưới sự điều khiển tích cực của đô đốc Rickover, cha đẻ của hạm đội tàu
ngầm nguyên tử Hoa Kỳ - vào cuối thập niên 1950 - tàu ngầm nguyên tử Hoa
Kỳ đã thực hiện 6 hải vụ dưới băng của Bắc Băng Dương, ngoài bìa hải
phận của Liên Xô.
Và đô đốc Rickover - trong suốt thời gian ông tại ngũ - vẫn luôn luôn
chủ trương phái tàu ngầm lên thám hiểm Bắc Băng Dương, để nghiên cứu khả
năng dùng tàu ngầm nguyên tử phóng hỏa tiễn tấn công Liên Bang Xô Viết,
đó là chưa kể cứ mỗi chiếc tàu ngầm nguyên tử Liên Xô đi ra khỏi hải
phận của nước này đều bị tàu ngầm của Hoa Kỳ theo dõi ngày đêm từ hơn 40
năm nay rồi.
Và hạm đội tiềm thủy đỉnh nguyên tử của Hoa Kỳ, hiện nay, có thể được
coi như là vũ khí dùng để tấn công cũng như để phòng vệ hữu hiệu và nguy
hiểm nhất của nước này.
Bấm vào đây để in ra giấy (Print)
Đăng ngày Thứ 5, Aug 12, 2010
Ban Kỹ thuật, K10A-72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH