Bấm vào đây để in ra giấy (Print)
![]()
Lúc gần đây báo chí và các đài TV Việt ngữ bán tán xôn xao về ông Phó
Thủ Tướng Đức gốc Việt. Tôi thật sự cảm động muốn khóc, không phải vì
ông là người có tài, đẹp trai, ăn nói khôn ngoan hay làm lớn mà vì nếu
cha mẹ nuôi không mang ông về Đức, chắc hôm nay ông cũng đã là kẻ lang
thang đầu đường xó chợ ở một nơi nào đó trên đất nước Việt Nam. Bạn tôi
muốn kể cho quý vị nghe về một đứa trẻ bụi đời, lang thang đầu đường xó
chợ trên đất Hoa Kỳ, nhờ mẹ nuôi Việt Nam mang về chăm sóc, dậy dỗ đã
trở nên người hữu dụng. Tôi lượm được thằng Michael ở bên xa lộ 45 South
Trên đường từ Houston đi Clear Lake. Dạo đó vào khoảng năm 1982, tôi mới
ra trường và bắt được một job thơm phức làm cho cơ quan NASA ở Houston
trong Mision Control Center, do một ông bạn học cùng lớp giới thiệu.
Cuộc đời tôi gặp bao nhiêu là may mắn bất ngờ, đúng là trời cho. Cho nên
tôi vẫn nhớ ơn ông Trời, cố gắng học làm người tử tế, dù có chịu thiệt
thòi một chút cũng cam lòng.
Số là hôm đó tôi đi làm trễ, vừa từ xa lộ rẽ vô NASA road 1, thấy một
thằng nhóc đi bộ lang thang bên lề đường, vai mang túi sắc to tướng,
kiểu túi sắc quân đội, như ngày xưa tôi nhận được khi mới vào trường Võ
Bị. Nhóc đưa ngón tay cái lên ngoắc ngoắc xin quá giang. Tôi vội dừng xe
lại hỏi:
-Mày muốn quá giang hả?
-Yes, Sir!
Hắn vội vã quăng cái “sắc” quần áo ra sau xe truck, với tay mở cửa và
nhảy phóc lên ngồi cạnh tôi. Mùi mồ hôi bốc lên nồng nặc. Không chịu
nổi, tôi phải quay vội cửa kiếng xe xuống.
Tôi hỏi chàng “Trẻ Tuổi Bụi Đời”:
-Mày muốn đi đâu?
-Đi đâu cũng được!
-Nhà mày ở đâu?
-Tôi không có nhà, mới từ OMAHA quá giang xe xuống đây.
Tôi nghĩ trong bụng: "Gặp thứ thiệt rồi”.
-Tao phải đi làm bây giờ, thôi tao thả mày xuống Clear Lake Park, ở đó
có đủ cả phòng vệ sinh và chỗ che mưa nắng đến trưa tao kiếm cái gì cho
mày ăn.
Bà xã tôi hay cằn nhằn về vụ cho mấy tay “bụi đời” quá giang xe. Kể ra
thì cũng nguy hiểm, chẳng may gặp anh chàng khùng nào đó coi mạng người
như cỏ rác, vậy là giống như trứng giao cho ác! Nhưng tôi quan niệm
khác, sống chết có số, ngày xưa lúc còn xông pha trận mạc, mình đâu có
tránh đạn được, toàn là đạn tránh mình thôi. Cho nên mỗi khi lái xe một
mình, gặp người xin quá giang, nếu thuận tiện tôi vẫn “dzớt” như thường.
Kể như đền ơn những người từng cho tôi quá giang hồi mới chân ướt chân
ráo bước chân đến đất Mỹ này. Hồi đó, mỗi ngày đi làm phải lội bộ hàng
mấy cây số trên đường đầy tuyết. Nếu gặp xe nào cho quá giang thôi mừng
hết lớn.
Từ sở làm đến hồ Clear Lake chỉ mất vài phút lái xe, tôi vẫn hay ra đó
ăn trưa, dỡn với mấy con chim hải âu bằng cách liệng lên cao một miếng
bánh mì sandwich thế là cả đám nhào xuống kiếm mồi, bu lại chung quanh,
tôi chỉ vung tay ra cũng túm được một chú. Đôi khi buồn ngủ quá bèn đánh
một giấc như “Những Ngày Xưa Thân Ái”.
Buổi trưa tôi mua 2 phần ăn rồi lái xe đi kiếm “Chàng Bụi Đời”. Đậu xe
vào parking, nhìn ra mấy bàn picnic sát bờ hồ, thằng nhóc ngồi đó đang
chăm chú xem cuốn album cũ nát. Thấy tôi đến, nhóc vội đứng lên chào và
rất mừng rỡ, có lẽ vì túi đồ ăn khá lớn tôi mang đến. Hắn đưa cho tôi
cuốn album và giải thích:
-Tôi thấy sau kiếng xe của ông có gián cái huy hiệu nhảy dù, chắc ông là
người Việt Nam?
-Sao mày biết?
-Ba tôi cũng từng chiến đấu ở ViệtNam, trên mũ cũng có cái huy hiệu
giống như cái ông gián sau xe. Đây ông xem có đúng không?
Hắn vừa nói vừa chỉ vào tấm hình chụp một chàng lính Mỹ mặt non choẹt,
trên dưới 25 tuổi, đầu đội mũ đỏ của lính nhảy dù Việt Nam thời xưa, cổ
áo mang hai bông mai vàng đàng hoàng. Nếu không có cái mặt Mỹ ai dám bảo
không phải là lính nhảy dù VN?
Tôi nhìn tấm hình thấy quen quen, đúng là thằng Doug Salvatore, Trung Úy
trong ban Cố Vấn của tiểu đoàn tôi. Sở dĩ tôi nhớ tên anh ta vì hắn hiền
khô ít nói, rất thích đội chiếc mũ đỏ nhảy dù lệch hẳn qua một bên, gặp
ai trong tiểu đoàn bất kể cấp bậc, cũng dơ tay chào miệng lẩm nhẩm “hảy
đù kú gắn”. Ai cũng cười hiểu rằng hắn muốn nói “Nhảy Dù cố gắng”, Doug
cũng cười theo. Hắn hiền khô ít nói, nhưng mỗi khi nhờ gì hắn đều giúp
đỡ tận tình, từ việc gọi hải pháo, phi vụ oanh kich, máy bay tải thương
đến xin vật liệu xây cất doanh trại. Mấy chiếc xe của tiểu đoàn hết bình
điện muốn nổ máy, kêu hắn đến là xong ngay, đẩy xe chạy băng băng một
chút xíu, thả chân số là nổ máy liền. Hắn có thêm một biệt danh khác là
“cargo 5 tấn”, ý nói mạnh như xe vận tải 5 tấn. Thỉnh thoảng hắn còn mua
tặng tôi cả đồ trong PX nữa. Lính trong tiểu đoàn gọi hắn là “Đất”. Biệt
danh đó cũng gần giống với tên thiệt. Mỗi lần gọi “Đất” hắn chỉ nhe răng
ra cười. Sau này biết được ý nghĩa của chữ “Đất” hắn càng thích thú hơn,
Một lần tôi hỏi hắn, sao tên của bạn là Salvatore, hơi giống như
Salvadore vậy, thế bạn có phải gốc Nam Mỹ không? Hắn nói chẳng có liên
quan gì cả, tổ tiên hắn đến từ Tây Ban Nha. Hắn đã cứu tiểu đoàn tôi
nhiều lần trong các cuộc hành quân thời “Mùa Hè Đỏ Lửa” nhờ xin được kịp
thời những phi vụ yểm trợ vũ bão từ đệ thất hạm đội hay từ căn cứ Utapao
bên Thái Lan.
Trong trận giải cứu An Lộc, tuyến phòng thủ của đại đội bị chọc thủng.
Tôi bị một mảnh cối vào bụng, cắt hết nửa lá gan, máu ra lênh láng.
Thằng Đất một tay bắn M16, một tay kéo tôi vào gốc cây cao su. Hắn xin
trực thăng tải thương vào bệnh viện dã chiến Mỹ, nếu không tôi chắc đã
đi luôn rồi. Tôi mang ơn cứu tử của Đất từ ngày ấy. Sau trận An Lộc, hắn
về Mỹ. Tôi mất liên lạc với hắn từ ngày tan hàng. Bây giờ lại gặp con
hắn ở đây, đúng là số Trời. Tôi mừng rỡ ôm lấy thằng bé, hỏi cuống quýt:
Tao là bạn của Doug, ba mày bây giờ ở đâu?
Hắn rớm nước mắt:
-Ba tôi chết cách nay 5,6 năm rồi.
-Kể tao nghe đi, sao vậy?
-Ổng bị đụng xe trên xa lộ bởi một người say rượu, chết ngay tai chỗ.
-Má mày đâu mà để mày đi lang thang như vầy?
-Má tôi có chồng khác, tôi không thể sống với cha ghẻ nên bỏ nhà ra đi.
-Mày đi má mày có biết không?
-Cả nhà còn ngủ, nào ai biết.
-Mày còn nhớ số phone nhà không.
-Tôi có đây, nhưng giá nào tôi cũng không về đâu.
-Tao đâu có nói là bắt mày về nhà, chỉ là gọi cho má mày yên tâm thôi,
để bả khỏi báo cảnh sát, mày hiểu không?
-Dạ hiểu.
-Thôi được rồi, quăng đồ đạc lên xe rồi đi theo tao.
Tôi dẫn thằng bé lại Motel 6 và book cho nó một đêm, thủng thẳng tính kế
giúp đỡ. Dù sao nó cũng là con của ngươì bạn đã có ơn cứu mạng với tôi,
tôi quyết tâm cứu lại con bạn. Có câu của Phật dạy “xây 7 cái gì gì đó,
cũng không bằng cứu cho một người” * Biết đâu cha nó đã dẫn nó lại cho
tôi? Tôi dặn thằng bé, tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo đàng hoàng, chờ tôi
sẽ tới đón nó trong vòng 2 tiếng đồng hồ nữa. Tôi lái xe về sở, nói
chuyện hoàn cảnh của thằng nhóc với xếp và mấy người bạn làm cùng nhóm,
xin xếp cho nghỉ vài ngày để giúp đỡ nó. Mỗi người khuyên một câu, đại
khái nói tôi phải cẩn thận với mấy đứa trẻ bụi đời. Chúng nó có cả ngàn
chuyện rắc rối, hút sách, đánh lộn, cướp giựt, có khi nó còn thưa ngược
lại là mình lợi dụng làm chuyện bạy bạ v.v.. Tôi đã quyết tâm cứu nó nên
bỏ ngoài tai tất cả những lời khuyên chân thành đó. Tôi chở thằng nhóc
vào sở và giới thiệu với mọi người, đồng thời gọi điện thoại cho mẹ nó,
cho biết nó đang đứng cạnh tôi và muốn nói chuyện với bà.
Tôi tránh ra một nơi để hai mẹ con nói chuyện được tự nhiên. Một lúc sau
trở lại, nhóc nói mẹ nó muốn đươc tiếp chuyện tôi. Bả ngỏ ý trao toàn
quyền cho tôi và cầu xin tôi giúp cháu, bởi vì đời sống trong nhà bà như
ở địa ngục, cha ghẻ con ghẻ không ngày nào là không gây gỗ nhau. Tôi
chấp nhận lời khẩn cầu của bà, yêu cầu bà viết cho tôi tờ giấy, giao
thằng Mike cho tôi, hứa không kiện tụng gì cả và phải có thị thực chữ ký
đàng hoàng. Tôi cho bà địa chỉ nhà tôi, số điện thoại sở và phone nhà,
cần gì cứ gọi cho tôi biết. Tôi nghĩ, có thể sẽ gặp rất nhiều rắc rôi
sau này, nhưng chấp nhận vậy. Xưa kia tôi đã từng chấp nhận biết bao rủi
ro nguy hiểm khi ra trận, bây giờ có chút đỉnh nhằm nhò gì?
Tôi phân vân không biết có nên nói thiệt với bà xã không? Chắc phải nói
rồi, nhưng dẫn nó về nhà chắc là bả không thể nào chấp nhận được. Đành
phải gởi thằng nhỏ lại bà chị. Chị có một quán ăn VN. Khi còn ở quê nhà,
chị cũng mở nhà hàng nho nhỏ, từng nuôi nhiều tay anh chị trong quán cho
nên du đãng không đứa nào giám phá phách hay đòi đóng hụi chết! Tính
tình chị phóng khoáng cởi mở, mấy đứa du thủ du thực đều nể mặt. Buổi
chiều, tôi dẫn thằng nhóc lại nhà hàng, kêu cho nó một đĩa cơm đồ biển
thật to, thằng nhóc chỉ ăn một loáng là hết sạch, như thể đã nhịn ăn cả
tháng rồi. Dặn nó ăn xong cứ ngồi đó. Đợi vãn khách, tôi gặp chị, nói rõ
hoàn cảnh của nó xin chị mở rộng tay cứu giúp nó, chỉ có chị mới giúp
được nó thôi. Xin chị cho nó một chỗ ở tạm, còn mọi thứ khác tôi sẽ lo.
Chị hơi lưỡng lự một chút, thở dài:
-Thôi được, sau khi đóng cửa tiệm, cậu chở nó về nhà, chúng ta sẽ nói
chuyện với nó.
Tôi mừng rỡ quá xá, cám ơn chị rối rít, tôi quay đi để che giòng lệ tuôn
trào, chị lúc nào cũng quan tâm và che chở bao bọc tôi. Cha mẹ mất sớm,
chị săn sóc và nuôi nấng tôi như mẹ, lúc nhỏ tôi vẫn sống với chị cho
đến khi nhập quân ngũ. Những lần bị thương thập tử nhất sinh chị vẫn là
người bên cạnh tôi. Lớn lên mỗi khi gặp rắc rối trong cuộc đời, tôi đều
chạy đến chị. Thật là Ông Trời đã cho tôi một bà chị để thay thế mẹ. Chị
góa chồng từ năm 1970, ở vậy nuôi ba đứa con trai. Tôi và gia đình chị
đã may mắn thoát được trong những giờ phút cuối cùng của miền nam, nhưng
đứa con thứ nhì của chị đã ra đi vĩnh viễn trên đường vượt biên, trong
lúc con tàu còn lênh đênh trên đại dương. Qua Mỹ, hai chị em xin được
việc làm trong một nhà hàng tàu. Chị phụ nấu bếp, còn tôi làm chân “chạy
bàn”. Chị bắt tôi phải đi học, chỉ cho làm cuối tuần thôi. Nhiều khi
thấy chị vất vả quá, tôi xin chị cho tôi nghỉ học để phụ giúp gia đình
nhưng chị cương quyết từ chối. Chị nhắc nhở tôi đó là bổn phận của chị
đã được cha mẹ giao phó trước khi nhắm mắt, phải lo cho tôi ăn học đến
nơi đến chốn, thành gia thất đàng hoàng, nếu không sau này làm sao nhìn
mặt các người nơi suối vàng. Mỗi năm, vào ngày giỗ cha mẹ, chị bắt tôi
phải thề trước vong linh các người là không được bỏ học dù bất cứ hoàn
cảnh nào, cho nên tôi cố gắng học, vật lộn với tiếng anh tiếng u, những
phương trình đại số và toán giải tích. Những thứ đó chỉ còn lờ mờ trong
trí óc cằn cỗi của tôi sau bao nhiêu năm lăn lộn ngoài chiến trường.
Nhiều khi làm bài không kịp phải ngủ đêm ngay tại trường trong các phòng
học. Có lần mệt mỏi quá, tôi đã ngủ gục khi lái xe về nhà, rõ ràng tôi
đã thắng xe lại khi đến đèn đỏ, thế mà vẫn tông vào đít xe trước mặt.
Báo hại phải năn nỉ chủ xe rồi bỏ tiền túi ra thường. Đã bao lần tôi
muốn bỏ cuộc nhưng tôi tự nhủ “Nhảy dù cố gắng!” nhưng phần lớn vẫn là
không muốn phụ lòng mong ước của chị. Ngày tôi ra trường, khi nhìn thấy
tôi được gọi tên lên lãnh bằng, chị là người la to nhất hơn cả mấy đứa
nhóc. Chị sung sướng hơn cả tôi, tôi ra trường, nhưng mảnh bằng là của
chị, công lao là của chị. Hai chị em ôm nhau chụp hình kỷ niệm mà nước
mắt chị ướt trên ngực áo tôi. “Thế là tâm nguyện của chị đã thành, chỉ
còn việc cưới vợ cho cậu nữa là xong” chị nói với tôi như thế trong buổi
tiệc ăn mừng. Tôi đã già đầu rồi, bao nhiêu năm chiến trận, đã từng chỉ
huy hơn một đại đội nhảy dù, thế mà chị vẫn nghĩ tôi còn con nít.
Trở lại chuyện thằng nhóc, 10 giờ tối, tiệm bắt đầu dọn dẹp đóng cửa.
Tôi dẫn nhóc lại giới thiệu với chị và xin phép chị chở thằng nhóc về
nhà trước. Tôi cắt nghĩa qua loa về phong tục tập quán của người Việt,
kính trọng người lớn tuổi hơn mình, nhất là người già cả, thế nào là
tiên học lễ hậu học văn, kính trên nhường dưới. Những điều căn bản đạo
đức của người Việt không tìm thấy trong sách giáo khoa ở trên đất Mỹ
này. Nhóc hứa với tôi từ nay sẽ chăm chỉ học hành không la cà hút sách
nữa. Nghe vậy tôi cũng yên lòng. Tôi thấy thương nó như chính con tôi
vậy.
Buổi tối, cả nhà quây quần trong phòng family room. Thằng nhỏ được mang
ra trình diện:
-Đây là Mike, còn đây là bà Ánh, hai người con của Bà là Dũng và Trí.
Cả nhà bắt tay nhau và nói lời chúc tụng xã giao. Bà chị tôi dặn thằng
Mike:
-Từ nay con gọi ta là Má Ba, mặc dù tên của ta là Ánh, ta đã nhận con là
con, ta sẽ đối xử với con như hai đứa con của ta, con có chịu không?
Thằng nhóc nói lý nhí:
- Yes Má Ba.
-Con bao nhiêu tuổi?
-Dạ 13.
-Thằng Trí 16 là anh Hai, Thằng Mike ta đặt tên VN là Mai là anh Ba,
thằng Dũng trẻ nhất 12 tuổi là Út cũng gọi là thằng Tư nghe chưa. Tất cả
đều dạ ran, Thằng Mike chẳng hiểu đầu đuôi ra sao tôi phải cắt nghĩa cho
nó hiểu.
- Con lớn nhất của Má Ba nick name goi là Number two, nó được gọi là
number three, trên thằng Tư một bực. Nó thắc mắc sao không có number
one. Má Ba trả lời đó là luật lệ. Còn luật nữa là ở nhà chỉ nói tiếng
Việt thôi. Bắt Đầu từ ngày mai, thằng Mai cũng phải nói tiếng Việt. Má
Ba cho một đặc ân, trong mấy tháng đầu, nếu thằng Mai không biết tiếng
Việt cho phép thằng Hai và thằng út nhắc nhở.
Chị tôi nói tiếp:
-Ngày mai cậu Út dẫn thằng Mai đi xin học, về nhà phải học và làm bài
tới 9 giờ tối, sau đó muốn coi TV hay làm gì khác tùy ý, 10 giờ tối phải
đi ngủ. Chúa Nhật phải đi lễ sớm, thằng Mai phải ghi danh học Việt Ngữ ở
trường Nhà Thờ như hai đứa kia. Thằng Út lên dọn phòng cho thằng Mai
ngủ.
Tôi cười nói với chị:
- Toàn là “phải” này “phải” kia y như bà “xếp” của em vậy. Thằng Mai
“phải” nghe lời Má Ba nghe chưa!
Nhóc vội vàng trả lời: “Yes, Sir!”
Chị lườm tôi:
-Mấy đứa này phải dặn kỹ càng như vậy mới được, còn không vào lỗ tai này
ra lỗ tai kia mất cậu ơi!
Hướng về thằng Mai chị tôi hỏi:
-Sao mày bụi đời.
Thằng Mai rớm nước mắt, ngập ngừng một lúc mới thốt nên lời:
-Má Ba ơi, con rất cô đơn và buồn khổ, lớn lên không cha. Cha ghẻ của
con là một người cọc cằn, khó tánh, và nghiện rượu, trong nhà cãi lộn
xảy ra hàng ngày. Tất cả giận dữ của mẹ và cha ghẻ đều đổ lên đầu con.
Cuối cùng con phải bỏ nhà ra đi.
-Rồi mày ở đâu, làm sao mà sống?
-Con phải ngủ dưới gầm cầu hay trốn vào mấy căn nhà bỏ trống. Ăn cắp đồ,
lục thùng rác hay bán cần sa ma túy để kiếm sống.
Chị xoa đầu thằng nhóc và khuyến khích nó rồi dẫn tôi đến thắp nhang bàn
thờ cha mẹ, hứa sẽ chăm nuôi thằng Mai như con chị. Chị nói với tôi có
lẽ Chúa mang thằng Mai cho chị, để an ủi chị những lúc thương nhớ thằng
con đã bỏ chị ra đi. Thế là chị lại có ba đứa con như xưa. Tôi thấy chị
lau vội hai giọt nước mắt vừa lăn trên má.
Bà chị tôi áp dụng luật lệ giang hồ và rất nghiêm khắc với mấy đứa con.
Anh rể tôi qua đời từ khi mấy đứa còn rất nhỏ. Anh là một Phật tử thuần
thành, vẫn hay đi Chùa vào những dịp lễ lớn. Chị là con chiên của Chúa,
hai người khác đạo nhưng vẫn sống với nhau hòa thuận, đạo ai nấy giữ,
mấy đứa con thì vừa cho đi nhà thờ vừa cho đi chùa. Sau khi anh mất chị
ở vậy, làm ăn vất vả để nuôi con ăn học. Qua Mỹ, tôi và chị đi làm công
một thời gian, hai chị em để giành được một số vốn nhỏ rồi mở tiệm ăn
Việt Nam. Bạn bè Mỹ của mấy đứa cháu đến nhà chơi phải nói tiếng Việt và
ăn đồ ăn Việt Nam. Có lần chị giải thích với mấy đứa con:
-Chúng mày tới nhà bạn phải nói tiếng Mỹ, tiếng của cha mẹ chúng nó phải
không? Ăn đồ ăn của cha mẹ chúng nó phải không? Vậy thì chúng nó cũng
phải nói tiếng Việt và ăn đồ ăn của tao, thế mới công bình chứ.
Mấy đứa con hết ý luôn.
Mấy đứa nhóc Mỹ ăn đồ ăn VN riết rồi đâm ghiền, món gì cũng không từ,
nước mắm, mắm tôm cũng mê luôn. Chúng gọi mắm tôm là mắm “con chuột”.
Chỉ một thời gian ngắn, thằng Mai đã có thể nói chuyện thông thường hằng
ngày bằng tiếng Việt. Nó lớn lên trong tình thương gia đình của chị tôi,
nó rất hãnh diện có một mái nhà ấm cúng và một người mẹ thương yêu chăm
sóc cho nó. Ngày thường cả ba đứa nhỏ đều đi học. Ngày Chúa Nhật, sáng đi
lễ nhà thờ rồi theo học lớp Việt ngữ tại đó, chiều đi lên chùa học võ
VOVINAM và họp Hướng Đạo. Ngày này qua tháng nọ, thằng Mai đã thành một
đứa nhỏ Việt Nam từ cách ăn nói lễ phép, đi thưa về trình hẳn hoi, biết
khoanh tay chào người lớn tuổi, biết cầm hai tay dâng đồ ăn cho Má Ba,
biết quỳ lạy trước bàn thờ cha mẹ tôi. Ngày Tết cũng biết mừng tuổi chị
tôi, biết cầm cờ vàng đi biểu tình ngày quốc hận. Nó hòa đồng với tụi
nhóc VN chẳng khó khăn gì. Gặp người Việt họ vẫn tưởng Mai là đứa con
lai, ai cũng khen ngoan và lễ phép, có đâu ngờ rằng nó là thằng Mỹ con
chính hiệu con nai vàng! Nếu mấy đứa con nít Việt Nam lớn lên trên đất
Hoa Kỳ bị gọi là “Chuối”, ngoài da vàng, nhưng trong đầu óc đã Mỹ hóa
hoàn toàn! Thì phải gọi thằng Mai là bánh bao, ngoài thì trắng trong thì
hầm bà lằng đủ thứ.
Mai và thằng út học chung một lớp, đi đâu cũng có nhau, anh em rất thân
thiết. Nó hay săn sóc hỏi thăm sức khỏe chị tôi, bắt chước thằng Út rót
nước mời chị mỗi khi chị đi làm về, đôi khi còn nấu những món ăn nhà quê
của người bản xứ mời chị ăn. Má con càng ngày càng thắm thiết. Chị cũng
rất thương nó, có khi còn hơn cả mấy đứa con ruột của chị. Chị vẫn hay
than thở với tôi “Tội nghiệp thằng Mai, có mẹ cũng như không.”
Một hôm chị nhờ tôi vô trường xem có chuyện gì xảy ra cho thằng Mai và
thằng Út, vì nhà trường yêu cầu chị đón chúng nó về nhà. Hai đứa đã đánh
lộn với một đám học sinh khác trên xe bus và bị đuổi học hai ngày. Chị
tôi chửi cho một trận nên thân và phạt đứng úp mặt vào tường 2 giờ và
dặn lần sau không được đánh lộn nữa.
-Tại sao hai đứa mày đánh lộn, chị hỏi.
Thằng Mai giành phần:
-Tại mấy đứa học sinh trên xe bus chọc ghẹo thằng Út ăn hiếp nó, gọi nó
là “chink choong” hay “Ê Chinese go home”. Con đã nói thằng Út với con
là anh em, chúng nó không chịu để yên thằng Út. Thế là đánh nhau.
-Lần sau phải thưa nhà trường, không được đánh lộn nghe không? Tao bảo
không nghe, tao không chửi bằng tiếng Việt nữa đâu. Tao sẽ ra trước cửa
nhà chửi chúng mày bằng tiếng Mỹ cho tất cả hàng xóm nghe cho xấu hổ cả
lũ.
Từ đó thằng Mai không giám đánh lộn nữa.
Mai và Út ra High School cùng một lượt, rồi ghi danh vào UT (University
of Texas at Austin) cùng với anh Hai của chúng. Tôi mua cho hai đứa một
chiếc xe Toyota nhỏ để thỉnh thoảng về thăm nhà. Tôi nhận phần trợ cấp
tài chánh cho ba đứa nhỏ thêm vào số tiền trợ cấp của chính phủ, để tiếp
tục chương trình đại học. Chị tôi cuối tuần nào cũng lái xe lên Austin
để tiếp tế đồ ăn cho mấy nhóc. Chị một đời làm thân cò lặn lội bờ ao,
nay tóc đã bạc quá nửa, con cái đã đi hết, nhà cửa thật trống vắng. Tôi
mời chị qua ở chung với tôi, nhưng chị một mực từ chối, tôi phải biểu
mấy đứa nhỏ nhà tôi qua thăm hỏi chị luôn. Đôi khi chúng ngủ luôn lại
nhà chị và coi chị như mẹ chúng. Một hôm tôi nhận được cú điện thoại của
thằng Mai gọi về:
-Cậu Út ơi, cứu con với.
-Mày làm sao vậy?
-Con đang ở City Jail! Cậu đừng cho Má Ba hay nghe, bả biết được, chửi
con thì cả hàng xóm đều biết, con xấu hổ lắm không giám về nhà đâu.
-Mày biết xấu hổ sao còn làm bạy.
-Con bị oan Cậu ơi.
-Mấy thằng trong tù, đứa nào mà chẳng kêu oan.
-Cậu không tin con, chứ ai tin con bây giờ?
-Nói tao nghe thử oan nỗi gì.
-Con gọi điện thoại trong nhà tù, chỉ được gọi giới hạn thôi. Cậu lên
đây bail con ra rồi con sẽ giải thích cho Cậu nghe, Cậu phải tin con mới
được.
Tôi sợ thằng Mai dính vào cần sa ma túy thì tiêu đời, tôi vội hỏi nó:
-Mày buôn bán ma túy phải không?
-Đâu có nào, con bị cảnh sát gài bẫy, nói là con solicit prostitutes.
Tôi thở ra nhẹ nhõm, chỉ là tội thường phạm thôi, chắc chỉ bị cảnh cáo
hay làm public service vài giờ là cùng.
-Thôi được, mai tao sẽ lên đó lãnh mày về.
Sáng hôm sau lên đến nơi, Mai đã dược chuyển về nhà tù của County rồi.
Tôi phải nhờ văn phòng “Bail Bond” để lãnh nó ra, trả hết 500 Đô tiền
bail và $250 tiền lệ phí cho văn phòng. Sau khi nạp tiền bail, thằng Mai
được thả ra chờ ngày ra tòa. Tôi hỏi Mai:
-Mày nói cho Cậu nghe, làm sao mà cảnh sát bắt mày?
-Cậu ơi, oan con thiệt mà. Sáng hôm qua con đi đổ xăng, thấy có con nhỏ
bị hư xe, con tới coi giúp nó, cuối cùng là chẳng có hư gì cả chỉ là hết
xăng thôi.
-Nó ăn mặc sexy lắm phải không?
-Sao Cậu biết?
-Thì nó muốn làm mờ mắt mày để nó nói gì thì mày cũng OK, tao còn lạ gì
chuyện đó.
-Cậu còn chọc quê con nữa! Con nhỏ nói nó đi bụi đời vì không ở nhà được
với cha ghẻ, mấy hôm nay xài hết tiền rồi, chẳng còn xu teng nào trong
túi. Con nghĩ tới hoàn cảnh của con ngày xưa nên muốn giúp nó, giống như
Cậu đã giúp con vậy.
-Thế tao giúp mày tao có bị cảnh sát bắt không?
-Cậu đừng la con nữa mà. Nó nói cái gì nhỏ lắm con nghe không rõ con
nghĩ là nó muốn xin tiền để đổ xăng. Dù nó không xin thì con cũng cho
mà, thế là con đưa cho nó 20 Đô. Con nhỏ vừa cầm tiền là đám cảnh sát
chìm nhào tới còng tay con liền. Con hỏi tại sao họ bắt con, họ nói là
con mắc tội mua dâm. Con nói chỉ là cho tiền con nhỏ đổ xăng thôi, không
tin cứ hỏi con nhỏ kia thì rõ, đám cảnh sát nói mai mốt ra Tòa mà cãi.
-Con nhỏ đó cũng là cảnh sát chìm để gài bẫy mày thôi, mày xập bẫy rồi
làm sao ra được.
-Con xin con nhỏ nói vài lời công bằng cho con, nó chỉ cười cười thôi.
Con muốn đục cho nó mấy cái quá đi.
-May mà mày không đục nó, chỉ nặng tội thêm, thôi được đi kiếm cái gì ăn
đã, tội mày cũng nhẹ, để tao nhờ luật sư lo cho. Lần sau muốn giúp ai
phải cẩn thận. Mày phải lựa lời nói cho Má Ba biết, kẻo mai mốt bả biết
được thì liệu hồn đó.
-Vậy tối nay con sẽ gọi cho Má Ba, Cậu nhớ nói giúp con một tiếng nghe,
không thôi bả chửi con sặc máu đó.
-Người ta nói “oánh sặc máu” chứ chửi sặc máu sao được mày!
-Thì con nói vậy Cậu hiểu rồi, Má con chửi cũng sặc máu đó Cậu ơi!
-Biết dzậy sao còn làm bạy.
-Con oan mà Cậu.
Tôi nhờ văn phòng bail bond giới thiệu một luật sư, giá 300 Đô lệ phí.
Vì chưa có tiền án, thằng Mai chỉ bị phạt 2 ngày làm công tác cộng đồng
thôi.
Mai và Út ra trường cùng một lượt. Chị Ba và tôi cùng đi dự lễ mãn khóa,
Chị rất mừng, ôm hai đứa con mà mắt đỏ hoe nói với chúng:
-Các con ơi, đây là sự thành công lớn nhất trong đời Má, tất cả các con
đã thành tài và nên người.
Mẹ ruột của Mai vì bệnh nặng không thể đến được, ba ghẻ của nó cũng
không muốn đến. Thằng Út được hãng Boeing ở Seattle nhận vào làm, Út ở
chơi với Mẹ hai tuần rồi đi nhận việc. Thằng Mai đã có ý ở nhà với chị
tôi, nên ngỏ ý:
-Má à, đã từ lâu con nghĩ, anh hai và thằng Út đều đi làm ở xa, con muốn
ở lại nhà để săn sóc Má, cho nên con đã nạp đơn vào trường Baylor
College of Medecine ở Houston. Khóa Fall sắp tới sẽ nhập học. Con xin Má
cho con về thăm Mẹ con ở OMAHA rồi trở lại ngay. Từ nay con sẽ mãi mãi ở
nhà với Má và chăm sóc cho Má suốt đời.
Chị tôi rất cảm động khi nghe những lời chân tình đó, không cầm nổi nước
mắt, ôm thằng Mai khóc vùi:
-Má rất cám ơn con đã lo cho Má, con không cần phải làm vậy, Má tự lo
được mà.
-Má không sinh ra con nhưng đã cứu vớt con từ bãi xình lầy và ban cho
con đời sống mới đầy ắp tình thương, chau chút cho con từng miếng cơm
manh áo. Không kể những ngày đau ốm bênh hoạn, Má luôn luôn ở bên con,
cầu nguyện cho con chóng khỏi. Tha thứ cho con bao lỗi lầm.
-Thiên Chúa đã mang con giao cho Má, Má chỉ làm bổn phận của một người
mẹ như bao nhiêu người mẹ khác trên thế gian này.
Mẹ ruột thằng Mai bị ung thư phổi, qua đời chẳng bao lâu sau đó. Tôi và
thằng nhóc bay về Omaha đưa đám, đó là lần cuối cùng nó gặp lại mẹ và
cha ghẻ. Ông nay cũng đã già lắm rồi, những chuyện cũ hầu như không nhắc
lại nữa, nhưng khoảng cách thì vẫn còn đó. Khó cho ai mở đầu một cuộc
hòa giải, mặc dầu cả hai đều muốn. Tôi phải làm một nhịp cầu để hai
người bắt đầu đối thoại và tha thứ cho nhau. Chỉ là những hiểu lầm thôi.
Ngày chia tay, Ông Già và thằng Mai ôm nhau khóc vùi, những giận hờn đều
trôi theo giòng nước mắt.
Mấy năm qua thật mau, Thằng Mai ra trường và nội trú tại Texas Children
Hospital trong khu vực Medical Center ở Houston. Nó muốn trở thành một
Bác sĩ con nít để săn sóc cho trẻ em, nhất là những trẻ em bụi đời.
Thằng Mai bây giờ đã là một Bác Sĩ, nhưng với tôi nó vẫn chỉ là thằng
nhóc bụi đời. Nhóc được rất nhiều trường học và Juvenile Probation
Center mời đi nói chuyện về đề tài “Run Away From Home” Trẻ Em Bụi
Đời.... Nó trở thành một thần tượng của đám con nít vô gia đình. Nhưng
không phải đứa nào cũng may mắn như nó, phải có một cơ duyên và một
quyết tâm sắt đá mới vượt qua bao thử thách. Đường đời có bao nhiêu ngã
rẽ, được mấy khúc phẳng phiu?
Minh-Đạo & Nguyễn Thạch-Hãn
Tác giả: Minh-Đạo & Nguyễn Thạch-Hãn
Bài số 3314-12-28544vb6072911
Tác giả đã góp một số bài viết đặc biệt về chuyện đời tị nạn, và được đề
cử vào danh sách chung kết Viết Về Nước Mỹ 2011. Bút hiệu gồm 2 người:
Minh-Đạo là một vị cao niên 86 tuối, viết lách cho... vui, trong khi
Nguyễn Thạch Hãn, cư dân Houston, Texas sinh năm 1945, là một cựu sĩ
quan Pháo Binh VNCH, hiện làm việc trong một công ty Energy tại thành
phố Houston. Trên đây là bài viết mới nhất của ông.
![]()
* Chú thích: Dù xây chín vạn phù đồ,
Không bằng làm phước cứu cho một người (ca dao)
Nguồn: Internet E-mail by Quỳnh Lan
Bấm vào đây để in ra giấy (Print)
Đăng ngày Thứ Năm, AUGUST 4th 2011
Ban Kỹ Thuật K10A-72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND, QLVNCH