Bấm vào đây để in ra giấy (Print)
By Kissinger
Tác Giả: Trần Đại Hải
Thứ Hai, 04 Tháng 7 Năm 2011 05:12
Mới đây, trong một cuộc tranh luận
Munk Debates tại Toronto (Canada). Ngày 17/6/2011, cựu ngoại trưởng Mỹ
Henry Kissinger đã nhấn mạnh rằng Trung cộng không thể trở thành một
siêu cường quốc hùng mạnh.
Cuộc tranh luận The Munk Debates khởi sự từ năm 2008, chuyên về các đề
tài chính trị quốc tế, diễn ra mỗi năm hai lần. Cuộc tranh luận do Qũy
từ thiện Aurea Foundation tổ chức, thu hút các học giả hay các chính trị
gia tầm cỡ thế giới, thu nhập lấy từ tiền bán vé và bán bản quyền phát
thanh và phát hình trên các hệ thống radio và truyền hình, trong đó có
CBC Radio's Ideas, đài BBC và CSPAN. Cuộc tranh luận nói trên mang tên
“The 21st Century will belong to China” (Thế kỷ 21 sẽ thuộc về Trung
cộng), trong đó Kissigner cùng nhà bình luận Fareed Zakaria thuộc về phe
chống. Kissinger thì ai cũng biết, còn Fareed Zakaria là nhà bình luận
nổi tiếng, từng là chủ bút lưu động của tạp chí Time và hiện đang đồng
điều khiển chương trình ngoại giao Fareed Zakaria GPS trên đài truyền
hình CNN. Họ tranh luận với Giáo sư Niall Ferguson và David Daokui Li.
Ferguson là giáo sư sử học tại Đại học Havard còn Li là giáo sư giảng
dạy tại Khoa kinh tế và quản trị của Đại học Thanh Hoa ở Bắc Kinh, một
trong những đại học hàng đầu của Trung cộng.
Theo kết quả bình chọn ban đầu của khán giả thì Kissigner cùng Zakaria
đã thắng lớn khi 62 phần trăm số người tham dự đồng ý với lập luận của
hai người. Trong khi Ferguson và Li cho rằng với đà phát triển hiện tại,
Trung cộng sẽ chắc chắn trở thành một siêu cường, thì Kissigner cùng
Zakaria nghĩ khác. Với con mắt của một bậc cáo già chính trị và quan hệ
quốc tế, Kissinger đưa ra những lập luận chặt chẽ để phản bác. Theo
Kissinger thì dù gặt hái được những ảnh hưởng khá nhanh trên trường quốc
tế, tuy nhiên, Trung cộng sẽ phải giải quyết hàng loạt các vấn đề ngay
trong nội địa và khó có thể trở thành một quốc gia mạnh theo ý nghĩa
“siêu cường quốc”.
Kissigner phát biểu: “Tôi tin rằng trong
10 năm tới đây, Trung cộng sẽ phải đánh vật với việc làm cách nào để có
thể đưa những vấn đề liên quan đến thể chế chính trị ăn khớp với quá
trình phát triển kinh tế của nước này. Tôi không tin rằng một quốc gia
đang cố sức giải quyết những thay đổi căn bản lại có đủ thời gian để
thống trị thế giới”.
Trong khi đó thì Zakaria cho rằng sự phát triển của Trung cộng thiếu
tính vững bền và có lúc sẽ sụp đổ. Ông nói: “không có cái gì sẽ vĩnh
viễn đi theo một đường thẳng”, và cho rằng sự phát triển “thẳng thớn”
của Trung cộng sẽ đến lúc “cụp xuống”. Trước lập luận này, Li cho rằng
giới trẻ tại Trung cộng đã học hỏi và thu thập nhiều kinh nghiệm từ nước
ngoài, do đó họ sẽ có khả năng cải tổ để Trung cộng phát triển đúng
hướng. Cuối cùng Li kết thúc bài tranh luận với câu kết luận: “We still
have gas in our gas tank", nghĩa đen là “Bình xăng chưa cạn” và nghĩa
bóng là vẫn còn động lực để đi tới. Như đã nói, đa số khán giả thiên về
phe Kissinger và cũng tại cuộc tranh luận, các học giả này đều đồng ý
rằng Nhật sẽ trở thành một siêu cường. Về thái độ hiếu chiến của Trung
cộng hiện tại, Kissinger dự đoán rằng Mỹ và Trung cộng sẽ phải điều
chỉnh để hình thành một trật tự thế giới mới, trong đó không có ai được
phép “giơ tay cao hơn”, và đó chính là thách thức hiện tại. Kissinger
phát biểu: “Chúng ta phải hiểu rằng
Trung cộng sẽ phát triển mạnh hơn và sẽ buộc phải ngừng các hành động
mang tính hiếu chiến…, Trung cộng cần phải hiểu những giới hạn của mình
trong quá trình xác lập các lợi ích của Trung cộng trên quy mô toàn cầu,
nếu không Trung cộng sẽ bị các chính phủ khác xa lánh”. Nhân
cuộc tranh luận này, chúng ta sẽ nhìn vấn đề trong góc độ “chiến tranh
kinh tế - tài chính” mà Trung cộng đang tiến hành với Mỹ để trở thành
“siêu cường”.
Kinh tế
Các thông tin cho thấy còn lâu Trung cộng mới qua mặt Mỹ về kinh tế.
Theo số liệu năm 2008 của CIA’s World Fact thì tổng sản lượng nội địa
của Trung cộng (GDP) là 7.8 ức Mỹ kim (7.8 trillion) so với GDP của Mỹ
cùng năm là 14.29 ức Mỹ kim. Như thế nền kinh tế Mỹ mạnh gấp hai Trung
cộng. Tốc độ tăng trưởng của Trung cộng vào năm 2008 là 9.8 phần trăm
cao hơn rất nhiều so với tốc độ tăng trưởng của Mỹ, với mức 1.3 phần
trăm vào năm 2008. Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế, thu nhập đầu người (GDP per
capita) của Trung cộng trong năm 2010 là 4,82 USD, so với của Mỹ là
47,84 USD. Cứ giữ nguyên tốc độ tăng trưởng này thì còn lâu Trung cộng
mới bắt kịp Mỹ. Với quá nhiều mầm mống xung đột, bấp bênh về tài nguyên
cũng như đã đạt tới mức tăng trưởng bão hoà: tốc độ tăng trưởng trên sẽ
có lúc giảm xuống và theo các kinh tế gia cho rằng Trung cộng phải mất
gần 50 năm nữa mới kịp Nhật và 100 năm nữa mới kịp Mỹ.
Nhiều người cho rằng Mỹ đã hết thời vì Trung cộng là chủ nợ chính của
Mỹ, thế nhưng nhiều nhà phân tích đã dẫn câu của nhà kinh tế Pháp Paul
R. La Monica để nhìn vào thực chất của vấn đề “Nếu
ngân hàng cho bạn vay một ngàn đô la, ngân hàng là ông chủ của bạn.
Nhưng nếu ngân hàng cho bạn vay một triệu đô la, bạn sẽ là ông chủ của
ngân hàng.” (If the bank lends you a thousand dollars, the bank owns
you. But if the bank lends you a million dollars, you own the bank).
Câu này cũng có thể hiểu theo ý của Hồ Hữu Tường trong cuốn Phi Lạc sang
Tàu: một nước nhỏ muốn yên ổn làm ăn thì phải trở thành con nợ của một
cường quốc. Để khỏi mất tiền, cường quốc đó phải bảo vệ con nợ của mình.
Tương tự, Trung cộng đang là chủ nợ lớn do đó phải o bế để bảo vệ, không
cho nền kinh tế Mỹ bị sập. Chính như thế nên chủ nợ Trung cộng đã trở
thành… con nợ của Mỹ.
Chủ nợ và con nợ
Nếu đồng tiền bị giảm giá thì hàng nhập cảng sẽ đắt hơn và hàng xuất
cảng sẽ rẻ hơn: đây chính là yếu tố kích thích kinh tế nội địa và tạo
công ăn việc làm. Tiền giảm giá thì dân trong nước sẽ ít du lịch nước
ngoài hơn và do đó cũng chỉ tiêu pha trong nước, đây cũng là yếu tố kích
thích thị trường nội địa, nhất là ngành du lịch. Để được như thế, từ 10
năm nay Trung cộng đã liên tục can thiệp để làm yếu đồng tiền của mình
và hầu như bỏ ngoài tai các lời phàn nàn hay đe dọa của Mỹ. Nay thì đã
đến lúc Mỹ ra tay, chơi trò dĩ độc trị độc bằng cách phá giá đồng tiền
của mình. Theo các chuyên gia phân tích thì từ 10 năm trở lại đây, Trung
cộng đã thao túng hối suất nhân dân tệ (NDT) với Mỹ kim bằng cách mỗi
ngày bỏ tiền ra để mua vào 1 tỷ Mỹ kim và mua như thế trong gần 10 năm
để giữ nhu cầu cao đối với tiền Mỹ, do đó giữ giá tiền Mỹ cao lên và nhờ
đó bảo vệ công ăn việc làm của người dân Trung cộng và bảo đảm sự ổn
định chính trị khi ai cũng có công ăn việc làm. Số lượng tiền Mỹ này
không phải giữ nguyên một chỗ mà còn dùng vào việc khác, thí dụ dùng để
mua tiền Úc nhằm thanh toán các giao dịch khoáng sản. Theo các quan sát
viên thì cho đến qúy III của năm 2010 số lượng dự trữ ngoại tệ của Trung
cộng hiện tại đã lên tới hơn 2,500 tỷ Mỹ kim.
Chính vì thế nên cán cân mậu dịch Mỹ - Trung đã nghiêng hẳn về phía
Trung cộng và trong khi Trung cộng tận hưởng tình trạng “xuất siêu”
(xuất cảng nhiều hơn nhập cảng) thì Mỹ lâm tình trạng “nhập siêu” (nhập
nhiều hơn xuất). Từ lâu các nhà lập pháp Mỹ đã tranh cãi rất nhiều về đề
tài này cũng như gây áp lực lên giới hành pháp. Theo họ thì Mỹ có thể
tạo ra nửa triệu việc làm trong vòng 2 năm và làm hồi sinh các thành phố
kỹ nghệ vang bóng một thời tại các bang Michigan, Illinois, Indiana,
Ohio, và Wisconsin mà không tốn một đồng xu nào cả: chỉ đơn giản buộc
Trung cộng ngừng hẳn việc thao túng tiền tệ, ngừng việc làm cho đồng
Nhân dân tệ yếu một cách giả tạo để thúc đẩy xuất cảng và tăng trưởng
kinh tế. Đó là chiêu thức mà Trung cộng đã theo đuổi từ bao nhiêu năm
nay, sau khi thực hiện việc mở cửa và cải cách kinh tế. Để làm việc này,
Trung cộng không đơn thuần sử dụng độc quyền chính trị và kinh tế để ấn
định giá hối đoái ở mức nào đó, tương tự chính phủ Việt Nam những năm
trước, mà trên thực tế họ còn làm nhiều hơn thế bằng các biện pháp thị
trường: bỏ tiền ra để mua đồng Mỹ kim. Nhưng càng làm như thế, Trung
cộng càng trở thành con tin của Mỹ. Các quan sát viên ước tính rằng cho
đến qúy III của năm 2010 số lượng Mỹ kim dự trữ của Trung cộng đã lên
tới hơn 2,500 tỷ Mỹ kim. Sau đó Trung cộng trích một số Mỹ kim này để
mua các trái phiếu mà chính phủ Mỹ phát hành.
Lấy thí dụ một công ty Mỹ đầu tư vào Trung cộng số tiền 5 tỷ Mỹ kim.
Công ty này không đơn giản chuyển tiền từ Mỹ vào Trung cộng mà lấy ngay
tiền của Trung cộng qua các dịch vụ tài chính từ khoản Trung cộng cho Mỹ
vay qua việc mua trái phiếu. Các công ty này lấy tiền của Trung cộng, sử
dụng nhân công rẻ mạt của Trung cộng, sản xuất ra sản phẩm khoảng 100 Mỹ
kim nhưng bán sang các thị trường khác với giá 500, 600 Mỹ kim và tiền
lời sẽ chảy hết về Mỹ. Xét xem ai lợi hơn ai? Trong khi đó, nếu Trung
cộng chơi trò phá để kinh tế Mỹ xuống, tiền Mỹ mất giá, kẻ lãnh hậu quả
chính là Trung cộng, 2500 tỷ Mỹ kim chỉ mất giá 1 phần trăm thôi, họ sẽ
thiệt hại bao nhiêu. Do đó Trung cộng phải làm sao để kinh tế Mỹ luôn
vững mạnh. Mà khi đồng tiền Mỹ mất giá thì nước Trung cộng với 1.2 tỷ
dân sẽ sinh loạn. Lúc đó hàng không xuất cảng được thì sản xuất đình đốn
và do đó thất nghiệp lên cao, tỷ lệ bần cùng lên cao. Bần cùng sinh đạo
tặc, mấy trăm triệu dân không có việc làm thì chóng hay chầy cũng vác
dao hay súng đi ăn trộm và có thể quay lại chống chính quyền.
Trung cộng biết vậy nhưng vẫn phải mua tiền Mỹ như là cách phá giá đồng
tiền để xuất cảng hàng vào Mỹ. Trong mấy tháng qua Mỹ đã cho Trung cộng
no đòn khi hạ giá đồng tiền của mình, vừa không chỉ chứng tỏ rằng dù là
con nợ, Mỹ vẫn là “chủ” khi Trung cộng rất cần đến thị trường Mỹ. Thiếu
thị trường Mỹ thì kinh tế Trung cộng sẽ lâm tình trạng khủng hoảng. Như
thế, vai trò “chủ nợ” của Trung cộng chưa thể nói rằng nước này đã qua
mặt Mỹ về kinh tế. Và không phải là chủ nợ lớn nhất thì muốn làm gì là
làm.
Lớn nhưng không mạnh
Trong khi Mỹ dựa chủ yếu vào thị trường nội địa thì Trung cộng trông dựa
chủ yếu vào thị trường xuất cảng. Nếu Trung cộng là hổ thì đó chỉ là con
hổ đói trong một khu rừng không có thú vật, phải trông cậy vào nguyên
liệu và nhiên liệu nhập cảng. Không nói gì tới sắt, than hay dầu: thậm
chí cả nước lạnh mà Trung cộng cũng thiếu, thiếu trầm trọng với tình
trạng sa mạc hoá đang diễn ra với tốc độ chóng mặt và hiện nạn bão cát
đang đe dọa cả Bắc Kinh. Tổng sản lượng kinh tế Trung cộng chỉ chiếm 4%
sản lượng kinh tế toàn cầu thế nhưng Trung cộng tiêu thụ tới 7% sản
lượng dầu lửa, 25% sản lượng thiếc, 30% quặng sắt, 31% than, và 27% sản
lượng thép của toàn thế giới. Nhưng Trung cộng lại sử dụng các nguồn
nguyên liệu ấy một cách thiếu hiệu năng. Theo thống kê thì để sản xuất
cùng một lượng hàng hoá thì Trung cộng sử dụng một lượng nguyên liệu cao
gấp 7 lần so với Nhật, gấp 6 lần người Anh, và gấp 3 lần người Ấn Độ:
lượng rác thải kỹ nghệ lớn hơn, năng lượng sử dụng nhiều hơn, nguồn nước
sử dụng để xử lý cũng nhiều hơn v.v..
Đó là nhu cầu của mức phát triển hiện tại: trong tương lai, khi nguyên
liệu và nhiên liệu càng hiếm và càng đắt, con hổ này cần xực bao nhiêu
nữa? Theo ông Justin Yifu-Li, một nhà kinh tế học hàng đầu về Trung
cộng, cho biết đời sống xã hội của người Trung cộng hiện tại mới đạt tới
mức sống của người Nhật vào thập niên 60. Bởi thế chính phủ Trung cộng
đã đặt chỉ tiêu xây dựng một xã hội giàu có: đến năm 2020 thì sẽ đạt sản
lượng nội địa gấp bốn lần mức hiện tại với mức phát triển 7.2%.
Bây giờ Trung cộng đã xoay xở hụt hơi để đáp ứng nhu cầu kỹ nghệ nội
địa, để có tổng sản lượng gấp bốn mức hiện tại thì họ sẽ trông cậy vào
nguồn nguyên liệu và nhiên liệu nào? Đó là chưa kể mầm mống bất ổn từ
bất công xã hội. Sự bất công ở Trung cộng là một hiện tượng mang tính
toàn diện: bất công giữa địa phương này với địa phương kia, giữa thành
thị với thôn quê, giữa thành phần đặc quyền đặc lợi và những người dân
thấp cổ bé miệng. Hố sâu ngăn cách giữa người giàu và người nghèo ngày
càng khơi rộng và chỉ chực bùng nổ, nhất là một khi nạn thất nghiệp tăng
cao. Trung cộng trông cậy vào thị trường ngoại quốc cả hai mặt tiêu thụ
và nguyên liệu, nếu xáo trộn ở nước ngoài thì các xưởng sản xuất ở Trung
cộng sẽ bó tay. Đến một lúc nào đó, vì không có việc làm, dân chúng cũng
sẽ đổ xô ra đường kêu gào chính phủ và gây nên những biến loạn chính
trị.
Sức bật của quốc gia
Trong khi Trung cộng duy trì một cơ chế kinh tế tư bản nửa vời, chịu áp
lực chi phối quá mạnh mẽ bởi nhà nước độc quyền thì Mỹ có một định chế
dân chủ vững chắc, với một nền kinh tế sáng tạo và luôn tìm ra được
chính sách thích ứng với hoàn cảnh, thậm chí với các cuộc khủng hoảng,
cuộc khủng hoảng lớn nhất vào năm 1930, cuộc khủng hoảng gần nhất vào
năm 2008. Đầu năm nay, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) dự báo rằng kinh tế Mỹ
sẽ chạm đà tăng của Trung cộng vào năm 2016 và do đó đã gợi lên những
cuộc tranh luận sôi nổi. Trong đó, không ít ý kiến cho rằng, Mỹ nên mừng
vì điều này.
Lý do là dù Mỹ không còn là nền kinh tế hàng đầu, thì cũng là nền kinh
tế phát triển vững mạnh. Theo ý kiến này thì có như vậy Mỹ mới bỏ thái
độ tự mãn và kinh nghiệm cảm giác của một “kẻ yếu”, do đó mới tỏ rõ bản
lĩnh và quyết đoán trong việc cải tổ để thúc đẩy tiến trình phục hồi
tăng trưởng kinh tế. Mỹ là cường quốc số một nhưng chưa phải mạnh toàn
diện. Tỷ lệ bần cùng của Mỹ cao nhất trong số các nước phát triển. Thành
tựu giáo dục của Mỹ cũng chỉ xếp hạng trung bình trong những năm gần
đây.
Chính tình thế báo động đó sẽ thôi thúc cả hành pháp và lập pháp Mỹ cũng
như hai phía chính trị cùng ngồi lại hợp tác để đưa ra những sách lược
sáng suốt vì quyền lợi quốc gia. Hiện chính phủ Obama đang chật vật đối
phó với vấn đề thâm hụt ngân sách và số nợ quốc gia khổng lồ sắp chạm
trần 14,3 nghìn tỷ Mỹ kim và sự chật vật này còn nảy sinh từ mâu thuẫn
giữa hành pháp và lập pháp, giữa dân chủ và cộng hoà. Khi bị cú sốc “mất
ngôi” thì bản lĩnh của Mỹ sẽ trỗi dậy mạnh mẽ và các biện pháp kinh thế
- tài chính sẽ được tung ra triệt để, nhằm giành lại vị thế hàng đầu.
Độ lớn của nền kinh tế chưa phải là tất cả mà khả năng tăng
trưởng bền vững của nền kinh tế mới là chìa khóa.
Nhiều người thán phục tốc độ tăng trưởng kinh tế chóng mặt của Trung
cộng mà không nghĩ đến cái giá phải trả cho môi trường và xã hội. Trung
cộng là một miếng bánh đắng với lớp đường mỏng ngoài vỏ: sự phồn thịnh
chỉ thấy ở những thành phố ven biển ở phía đông và phía nam, còn ở miền
trung người dân còn phải sống ở những cái nhà đục trong hang núi. Không
chỉ là sự bất công giữa địa phương này với địa phương kia, giữa thành
thị với thôn quê, hố sâu ngăn cách giữa người giàu và người nghèo ngày
càng khơi rộng và chỉ chực bùng nổ. Cũng giống như Việt Nam, đây đó
trong các vùng thôn quê Trung cộng đã phát sinh các hiện tượng nổi loạn
vì nạn “giải tỏa đền bù đất” khi các viên chức địa phương bị các công ty
mua chuộc, gây thiệt hại cho họ. Mấy tuần qua, báo chí thế giới đã tường
thuật các vụ nổ bom nhắm vào các công sở ở Trung cộng: chỗ này thì đó là
phản ứng của một người thất nghiệp, chỗ kia là phản ứng của người bị
“cưỡng chế” nhà cửa theo quy hoạch.
Về tình trạng ô nhiễm thì bất cứ ai từng ghé đến Bắc Kinh hay Thượng Hải
đều cảm thấy sự ngột ngạt của hai thành phố này: trong 10 thành phố ô
nhiễm nhất thế giới thì Trung cộng chiếm tới 7. Theo một bản phúc trình
của World Bank thì những thiệt hại môi trường này đã làm Trung cộng tổn
hại từ 8 đến 12% tổng sản lượng quốc nội mỗi năm. Đồng thời, cũng theo
một báo cáo của World Bank, có tới 75% sông ngòi Trung cộng đã bị ô
nhiễm trầm trọng khi nước ở đây không thể lọc ra uống được, cá ở đây
không thể ăn được, thậm chí nước ở đây cũng không thể sử dụng cho mục
đích dẫn thủy nhập điền vì sẽ hại cây cối, hoa màu.
Trần Đại Hải
Nguồn Internet E-Mail by Quỳnh Lan
Bấm vào đây để in ra giấy (Print)
Đăng ngày Thứ Năm, JULY 7th, 2011
Ban Kỹ thuật Khóa 10A-72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND,
QLVNCH