Bấm vào đây để in ra giấy (Print)
Tưởng niệm 50 năm ngày ông Phạm Văn Đồng ký công hàm công nhận Hoàng Sa, Trường Sa thuộc Trung cộng!
Tôi xin tự giới thiệu: Tôi là một
công dân sinh ra và lớn lên trên quê hương Mộ Đức của cố thủ tướng Phạm
Văn Đồng, được đào tạo liên tục từ tiểu học lên đại học một cách chính
quy dưới mái trường xã hội chủ nghĩa. Về mặt gia đình tôi gọi ông Đồng
bằng ông. Do nhà gần và có quan hệ nhất định nên trong gia đình tôi có
người cũng theo ông Đồng rồi bị Pháp bắt và sát hại từ những năm 1930.
Tôi không có ý khoe khoang nhưng tôi muốn nói rằng không có lý do gì mà
bản thân tôi lại không tự hào và kính trọng ông Phạm Văn Đồng. Đúng là
thế hệ chúng tôi đã từng rất tự hào là quê hương đã sinh ra một người
con ưu tú. Một sự tự hào đã được giáo dục để trở thành “bản năng”, như
là một “phản xạ không điều kiện”, mà trong tất cả các bài tập làm văn
chúng tôi đều phải có những câu đại loại: “tự hào là một học sinh dưới
mái trường XHCN, tự hào được sống trong thời đại Hồ Chí Minh, tự hào quê
hương đã sinh ra Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người học trò xuất sắc của Chủ
tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”, vân vân và vân vân.
Nhận thức về sự kính trọng và tự hào cũng được đúc ra từ những khuôn mẫu
có sẵn nhưng rồi cũng đến lúc chúng tôi cần tìm hiểu về những gì mình đã
từng tự hào kính trọng. Chẳng hạn, cái gọi là mái trường XHCN mà chúng
tôi ca ngợi cho đến bây giờ như thế nào vẫn chưa định hình được. Ngày
xưa học dưới mái trường XHCN còn bây giờ đang “định hướng” XHCN nhưng
lại được đánh giá là xã hội phát triển, có nghĩa là càng đi xa CNXH thì
xã hội càng phát triển!
Còn về ông Hồ Chí Minh thì nhiều người đã nói rồi, tôi chỉ có thể ghi
thêm lời dân gian quê chúng tôi ta thán:
“Sống dưới triều đại Cha Hồ
Làm con thì được, làm người thì không.”
Hôm nay, là người dân Mộ Đức, tôi nói về ông Đồng – hơn 30 năm làm Thủ
tướng, ông đã làm được gì cho đất nước, quê hương?
Gọi ông là một nhà ngoại giao, một nhà chính trị tài ba đã giành chiến
thắng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là không đúng, bởi vì
cuộc chiến tranh này có thể tránh được. Vả lại “thắng” nhưng không có
“lợi”, những người Mỹ, chính sách Mỹ mà ông chống, bây giờ được mời quay
lại Việt Nam. Cũng không có “nhà ngoại giao tài ba” nào lại ký công hàm
công nhận lãnh thổ của mình cho quốc gia khác.
Nếu gọi ông là một nhà kinh tế cũng không đúng; vì lúc có một nửa đất
nước ở miền Bắc ông không đưa ra được quốc sách nào có tính vĩ mô để
tăng trưởng kinh tế, ngoài chính sách “tiết kiệm” để tích lũy, kiểu như
“hạt gạo cắn làm hai, làm ba”. Còn sau tháng 4/1975 với chính sách hợp
tác xã nông nghiệp và di dân đi kinh tế mới, ông đã bần cùng hóa cả miền
Nam, vốn trước đó là một nước mạnh trong khu vực Đông Nam Á.
Nói ông là một nhà lý luận, một nhà văn hóa cũng không ổn. Ông có câu
nói với thanh niên, học sinh: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội cần phải
có những con người mới xã hội chủ nghĩa” nhưng ông lại vòng vo về cái
chủ nghĩa xã hội và con người xã hội chủ nghĩa của ông. Con người mới
khác con người cũ cái gì? Kiểu như “con gà, cái trứng” hay chính sách
“có hộ khẩu mới có việc làm, có việc làm mới cho nhập khẩu” dưới thời
của ông. Còn về văn hóa thì hình như ông hơi thiếu vốn tiếng Việt nên
thường dùng đệm tiếng Pháp trong văn nói.
Người dân Mộ Đức “kính trọng” ông lắm! Tôi xin kể một số giai thoại về
ông Đồng ở quê hương Mộ Đức:
Thời kỳ còn hợp tác xã nông nghiệp, mỗi lần ông về quê là dân Mộ Đức tới
khổ. Trước khi ông về là tập trung ngụy quân, ngụy quyền tham gia chế độ
cũ lên núi để tiếp tục học tập cải tạo cho đến khi nào ông đi mới thả
về.
Trên tuyến đường ông qua, hai bên đường được bón rất nhiều phân urê, lúa
xanh đậm thấy rất đẹp mắt. Ông khen địa phương làm ăn giỏi, chẳng mấy
chốc nữa sẽ tiến lên Chủ nghĩa cộng sản. Nhưng đến khi ông đi thì chỗ
phân nhiều bị cháy, chỗ thiếu phân còm cõi không trổ bông nổi. Mỗi lần
ông về quê, một ngày công của xã viên được 4 lạng lúa (0.4 kg)!
Có một năm các xã ven biển ở Mộ Đức như Đức Lợi, Đức Minh, Đức Phong có
con cá ông (dân biển gọi cá voi là cá ông, cá bà) cứ bơi lởn vởn ngoài
biển ngang làm ghe tàu nhỏ của ngư dân không dám ra biển đánh cá; còn ở
xã miền núi Đức Phú thì đêm đêm nhiều bầy heo rừng ra phá hoại hoa màu
của dân, chính quyền địa phương bất lực. Gặp lúc ông Đồng về quê, nghe
báo cáo tình hình địa phương xong, sáng hôm sau ông xuống biển chờ cho
cá ông nổi lên ông nói “Yêu cầu các đồng chí kết nạp cá thành xã viên
hợp tác xã”. Cá ông nghe thế lặn tuốt ra biển. Chiều đến, ông lên núi
xem họa heo rừng phá hoại hoa màu. Ông cũng nói với cán bộ địa phương
cho chúng vào hợp tác xã là chúng sẽ thuần hết, nhưng cán bộ địa phương
nói: “thưa bác, chúng nó đã vào hợp tác xã lâu rồi, chúng cũng làm ăn
tập thể đàng hoàng, lúc nào xuống phá bà con cũng đi hàng đàn từ vài ba
chục con trở lên”. Ông Đồng nói: “Vậy thì cho đi kinh tế mới!”. Kể từ
tối hôm ấy cả xã Đức Phú không còn con heo rừng nào dám ra phá nữa.
Có người hỏi ông Đồng, sao ông không nhận để người ta gọi bằng Bác, ông
nói: “Ông Hồ xưng là Cha, nếu tôi xưng là Bác, tức là anh của ông Hồ à!”
Có lần ông tới thăm nhà chị là bà Thừa Xuân, có mảnh vườn trồng rau để
ăn và để bán. Hồi đó tiền có giá, ông nghe người ta mua bán nhau nắm
rau, quả cà, cứ nói “một đồng, hai đồng”, ông giận lắm vì bị mấy bà hàng
xén ở chợ gọi tên huý ra. Sau đó ông về Hà Nội và quyết định “nâng” tiền
Việt Nam, để từ đó người ta không kêu “một đồng hai đồng” nữa mà chuyển
qua “một ngàn, hai ngàn” cho đến bây giờ.
Sự kính trọng của người dân Mộ Đức đối với ông Đồng là như thế đó. Còn
sự tự hào thì sao? Sau khi biết được ngày 14/9/1958 ông Phạm Văn Đồng ký
công hàm công nhận quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Trung Quốc thì
người dân Mộ Đức cảm thấy nhục nhã thay cho ông. Cuộc đời con người hay
chế độ chính trị có thể có nhiều sai lầm, nhưng bán đất bán nước cho
ngoại bang thì là sai lầm không thể tha thứ được. “Noi gương” ông là
Trần Đức Lương – với tư cách là Chủ tịch nước đã ký hiệp định đường biên
trên bộ và trên biển tiếp tục nhượng đất và biển cho Trung Quốc.
Rồi đây, lịch sử dân tộc Việt Nam sẽ ghi:
- Ông Phạm Văn Đồng quê ở Mộ Đức, Quảng Ngãi, với tư cách là Thủ tướng
Chính phủ, ngày 14/9/1958 đã ký công hàm công nhận quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa thuộc về Trung Quốc.
- Ông Trần Đức Lương quê ở Đức Phổ, Quảng Ngãi, với tư cách là Chủ tịch
nước, ngày 30/12/1999 đã ký Hiệp ước biên giới trên đất liền nhượng cho
Trung Quốc hàng ngàn cây số vuông, tiếp đến ngày 25/12/2000 đã ký Hiệp
định phân định vịnh Bắc Bộ tiếp tục nhượng hàng chục ngàn cây số vuông
mặt biển cho Trung Quốc.
Vậy là Quảng Ngãi có hai tội đồ cùng tham gia bán nước dưới triều đại Hồ
Chí Minh.
Nhân dân Mộ Đức, Quảng Ngãi có thể có sự kính trọng, tự hào được không?
Không, hoàn toàn không! Ngay cả chính con cháu trong tộc họ Phạm không
ai dám ngẩng cao đầu để tự hào là con cháu ông Phạm Văn Đồng. Họ cũng
biết rằng, Nguyễn Thân (quê ở Thạch Trụ, Mộ Đức, Quảng Ngãi) là đại thần
triều Nguyễn cấu kết với thực dân Pháp chống phá phong trào Cần Vương,
tiêu diệt nghĩa quân Phan Đình Phùng, sau năm 1945 đã bị Việt Minh cho
đào phá toàn bộ mồ mả, nhà cửa (Có lẽ vì vậy mà Cộng Sản không dám đưa
ông Phạm văn Đồng về chôn ở quê nhà, còn ông Trần Đức Lương khi hết làm
chủ tịch nước cũng không dám về Quảng Ngãi).
Kể ra thì ông Đồng cũng biết sám hối, khi cuộc đời đã xế chiều sống
trong bóng tối của sự mù lòa và của xã hội ông tham gia tạo nên; vị thủ
tướng ba phải, hiền lành đến nhu nhược, đã có câu nói trứ danh “Không ai
làm thủ tướng lâu như tôi và cũng không ai làm khổ dân nhiều hơn tôi!” –
có lẽ đó là câu nói duy nhất đúng trong cuộc đời của ông.
Không những ông làm khổ dân lúc còn sống, mà ông còn làm khổ dân khi đã
chết. Biết bao giờ nhân dân Việt Nam mới lấy lại được Trường Sa, Hoàng
Sa? Còn người dân Quảng Ngãi tiếp tục è cổ ra nộp thuế để xây lăng mộ
cho dòng họ Phạm của ông, xây bảo tàng, nhà tưởng niệm Phạm Văn Đồng.
Ngày 1/9/2008 Quảng Ngãi đã khánh thành “Khu lưu niệm Phạm Văn Đồng”;
theo thông báo chính thức từ chính quyền, tổng kinh phí hơn 46 tỉ đồng,
trong đó phần xây lắp hơn 20 tỉ, trên diện tích hơn 2 ha (Giá đất là 1.3
triệu/m2, trị giá đất khoảng 26 tỉ).
Bốn mươi sáu tỉ kia có thể làm được những gì cho nhân dân Mộ Đức, Quảng
Ngãi?
Xin thưa:
- Xây dựng 3,067 ngôi nhà cho người nghèo;
- Tạo điều kiện cho 115,000 trẻ em nghèo có điều kiện mua sách vở đến
trường trong năm học mới;
- Là tiền thuế của 144,230 người dân Mộ Đức trong 2 năm (Dự toán thu
ngân sách năm 2008 của huyện là 23.1 tỉ đồng)
Đó là chưa tính đến các chi phí khánh thành, duy tu, chi lương cho nhiều
người trông coi, bảo vệ.
Một người con của quê hương núi Ấn sông Trà, nhưng đến khi chết rồi vẫn
còn làm khổ nhân dân Quảng Ngãi, có phải vì ông là đảng viên Cộng sản,
học trò của Hồ Chí Minh không? Trong khi cụ Huỳnh Thúc Kháng, quyền chủ
tịch nước đầu tiên của Việt Nam dân chủ cộng hòa, yên nghỉ trên núi Ấn
lộng gió, ngôi mộ đơn giản được xây dựng từ thời ông Ngô Đình Diệm, ngày
ngày khách trong ngoài nước, đủ mọi thành phần đến viếng thăm đều thể
hiện lòng tôn kính.
“Vạn Niên là Vạn Niên nào
Thành xây xương lính, hào đào máu dân”
Câu ca dao xưa đi vào tiềm thức của thế hệ chúng tôi, “thế hệ sinh ra và
lớn lên dưới mái trường xã hội chủ nghĩa”; câu ca dao khơi mào cho cuộc
khởi nghĩa nông dân mang tên “khởi nghĩa Chày Vôi” (năm Bính Dần 1866)
xuất phát từ việc xây dựng Vạn niên cơ, quân sĩ và dân phu phải làm lụng
khổ sở, nhiều người oán giận, vua Tự Đức một thời đã đi vào lịch sử dân
tộc là vị vua hôn quân vô đạo.
Tôi đã đến lăng mộ vua Tự Đức, cũng đã đến khu tưởng niệm Phạm Văn Đồng.
Trên tất cả mọi phương diện (đất đai, diện tích, quy mô, kinh phí, thời
gian, ...) lăng Tự Đức còn lâu mới bằng khu tưởng niệm Phạm Văn Đồng –
một vị thủ tướng dưới chế độ XHCN còn hơn cả vị hoàng đế của triều đại
phong kiến, ngay cả khi đã chết.
Lịch sử rất sòng phẳng. Thời gian trôi qua, dân tộc sẽ có cái nhìn khách
quan hơn, đánh giá công, tội một cách rõ ràng; sự kính trọng đối với
từng nhân vật lịch sử không cần phải áp đặt, cưỡng chế.
Là một người dân Mộ Đức, tôi cảm thấy có tội khi nói thêm (Quê tôi) “là
quê hương của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng”.
Đỗ Mai Lộc
![]()
Nguồn: Internet E-mail by TS TCH, SQCTCT QL-VNCH chuyển
Đăng ngày Thứ Sáu, February 3rd, 2012
Ban Kỹ thuật Khóa 10A-72/SQTB/ĐĐ, ĐĐ11/TĐ1ND,
QLVNCH