Dĩ vãng hiện lên đầu óc tôi như cơn ác mộng bi thương buồn thảm!
... Ngày 21-4-75, tôi được báo cho biết có cuộc họp báo nơi phòng Khánh
Tiết (trong Dinh Độc Lập). Nội dung cuộc họp báo tôi chưa được biết, đó
cũng là việc làm bảo mật thường ngày của khối Cận Vệ chúng tôi....
Cuộc họp báo lúc 19 giờ đêm 21-4-75
Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố từ chức, bàn giao
chức vụ lại cho Phó Tổng Thống Trần Văn Hương làm Tổng Thống theo Hiến
Pháp do Lưỡng Viện Quốc Hội chỉ định.
Trong lúc chiến sự gay go nguy hiểm, Cộng quân đã chiếm toàn miền Trung
và đang bao vây Tỉnh Long Khánh. Tin Tổng Thống Thiệu từ chức đã làm cho
toàn thể Quân Lực đang chiến đấu với Cộng quân trên khắp các mặt trận bị
giao động hoang mang mất hẳn tinh thần....
Đến chiều ngày 28-4-75. Tổng Thống Trần Văn Hương họp báo giao quyền
Tổng Thống lại cho Đại Tướng Dương Văn Minh theo yêu cầu của Lưỡng Viện
Quốc Hội VNCH.
Ngày 29-4-75. Tổng Thống Dương Văn Minh ra lệnh trục xuất người Mỹ phải
rời khỏi Việt Nam trong vòng 24 giờ.
Cảnh tao loạn đã diễn ra khắp nơi trong đô thành, trong khi các phái bộ
Hoa Kỳ cấp tốc rời khỏi VN do cuộc không vận khổng lồ từ các căn cứ ở
Thái Lan, Phi Luật Tân và Hàng Không Mẫu Hạm Đệ Thất Hạm Đội chờ sẵn
ngoài khơi. Trong lúc đó người dân VN cũng được không vận ra đi với các
gia đình nhân viên làm việc cho Mỹ, cũng trong số đó có cả quân nhân,
công chức cùng thoát đi.
Tình hình chiến sự càng lúc càng thêm nguy ngập, Cộng quân đã cắt hẳn
các con đường vào thành phố và đang tập trung quân để bao vây đô
thành....
Về phần tôi, sau khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, 2 ngày sau tôi
được lệnh hộ tống đưa Tổng Thống phu nhân lên phi trường để đi Đài Loan.
Anh em Cận Vệ chúng tôi vẫn túc trực ứng chiến 24/24 tại Dinh Độc Lập.
Tôi được biết Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu sau khi từ chức vẫn còn ở lại
trong Dinh Độc Lập cho đến đêm 25-4-75. Phái bộ Hoa kỳ vào Dinh rước đi
cùng lúc với thành phần Nội Các chánh phủ của ông.
Khối Cận Vệ lúc bấy giờ do Trung Tá Võ Trung Thứ điều hành, và tất cả
Cận Vệ Viên từ Sĩ Quan, hạ Sĩ Quan và binh sĩ vẫn còn túc trực, vì nhiệm
vụ của khối Cận Vệ là bảo vệ vị nguyên thủ quốc gia. Khi Tổng Thống
Nguyễn Văn Thiệu ra đi, chúng tôi lại có nhiệm vụ bảo vệ vị nguyên thủ
đương nhiệm Tổng Thống Trần Văn Hương và rồi đến Tổng Thống Dương Văn
Minh....
Đối với ông Trần Văn Hương thì tôi là một trong số những Người Nhái có
nhiệm vụ bảo vệ cho ông từ khi đang giữ chức vụ Thủ Tướng, Đại Tướng
Nguyễn Khánh giải nhiệm ông Trần Văn Hương vào năm 1965. Cộng Sản đã lên
7 bản án tử hình, BTL/HQ chỉ thị cho toán Người Nhái bảo vệ an ninh cho
ông.
Ông cụ mỗi đêm thường gọi tôi đến bên ông ngồi chung trên chiếc võng
đong đưa trong tiền đình của ngôi nhà Santa Maria tại Vũng Tàu.
Ông kể cho tôi nghe những mẫu chuyện trong đời ông từ thời kháng chiến
chống Pháp trong bưng biền và cho đến lúc ông ra làm Đô Trưởng đô thành
Sài Gòn Chợ Lớn, rồi đến chức vụ Thủ Tướng cho đến lúc bị giải nhiệm...
ông thân thiết và thường khuyên bảo tôi như con cháu trong nhà.
Được vài tháng sau tôi và một số NN trở về BTL/HQ để nhận công tác đo
nước lập thủy đạo, cập nhật hải đồ các bãi đổ bộ cho toàn miền Nam, từ
Bến Hải đến Đảo Phú Quốc suốt mấy tháng trường. Mãi đến năm 1971, ông
Trần Văn Hương ứng cử Phó Tổng Thống chung liên danh với Tổng Thống
Nguyễn Văn Thiệu. Khối Cận Vệ Phủ Tổng Thống đề cử tôi làm Sĩ Quan
trưởng toán Cận Vệ để bảo vệ cho ông trong suốt thời gian ông cụ đi vận
động tranh cử cho đến khi đắc cử.
Sau lễ Đăng Quang nhậm chức Phó Tổng Thống, toán Cận Vệ chúng tôi trở về
nhiệm sở khối Cận Vệ Phủ Tổng Thống, ông cụ gọi tôi vào và ngỏ ý muốn
tôi ở lại làm việc cho ông, tôi cám ơn ông cụ và từ chối. Vì nhiệm vụ
của toán Cận Vệ chúng tôi là bảo vệ cho ông cụ và cùng lúc huấn luyện
cho toán Vệ Sĩ của Phủ Phó Tổng Thống về các phương pháp bảo vệ an ninh
cho yếu nhân do Đại Úy Cương (cháu ruột của ông cụ) làm Trưởng Toán.
Vì có những liên hệ như trên nên khi Phó Tổng Thống Trần Văn Hương đảm
nhiệm chức vụ Tổng Thống VNCH do Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu bàn giao,
tôi lại nhận trách nhiệm Sĩ Quan Cận Vệ cho ông cụ.
Đến ngày 28-4-75, Đại Tướng Dương Văn Minh nhận chức vụ Tổng Thống VNCH
do Lưỡng Viện Quốc Hội yêu cầu Tổng Thống Trần Văn Hương bàn giao.
Đại Úy Trần Bá Huệ (cháu ruột của Tổng Thống Dương Văn Minh) giữ chức vụ
Trưởng Phòng Cận Vệ, lại giao cho tôi và Chuẩn Úy Trang Đức cận sát để
bảo vệ cho TT Dương Văn Minh. Đại Úy Huệ biết rõ và tin tưởng khả năng
võ thuật và tác xạ của tôi vì Đại Úy Huệ phục vụ bên Võ Phòng Phủ Tổng
Thống lúc trước, nên Đại Úy Huệ thường thao dượt luyện võ với tôi. cũng
vì vậy mà tôi phải túc trực 24/24.
Tối đêm 29-4-75. Cộng quân pháo kích vào đô thành khắp nơi, tôi và Thiếu
Tá Trần Chí Đức Trưởng Toán 4 Cận Vệ, đang phân phối điểm gác tại tư
dinh số 3 đường Trần Qquý Cáp, Đại Úy Huệ giao cho tôi tấm vải trắng để
xé ra đeo trên cánh tay trái để làm ám hiệu, tôi nghi ngờ hỏi Đại Úy
Huệ: Tại sao lại dùng vải màu trắng làm ám hiệu ? Đại Úy Huệ không trả
lời. Thiếu Tá Trần Chí Đức Trưởng Toán 4 liền lên xe Jeep bỏ đi mất.
Một lúc sau thấy không an toàn vì pháo kích nên Tổng Thống Minh và Nội
Các chánh phủ cùng gia đình vào dinh Độc Lập nghỉ đêm.
Trung Tá Võ Trung Thứ họp Sĩ Quan chúng tôi lại và rưng rưng nước mắt:
Có lệnh cấp trên, các Anh Em hãy nghe tôi. Hãy nghĩ đến gia đình các anh
mà theo lệnh cấp trên. Buông súng xuống! Tất cả nhục nhã này tôi xin
gánh chịu. Các anh đừng nên chống lại nữa vô ích....
Trung Tá Thứ còn nói nhiều nữa…. Nhưng tôi không còn nghe gì được nữa
cả. Uất hận tuôn trào. Tôi cảm thấy chơi vơi, nhục nhã, đau đớn ê chề.
Tôi nghĩ nếu chúng tôi thật sự chống trả thì dầu cho Cộng quân có bao
vây dinh Độc Lập bằng chiến xa, pháo binh hay tấn công bằng phi cơ, thì
chúng tôi cũng có thể giữ được ít nhứt là nửa tháng... Chúng tôi căm tức
nhưng biết mình cũng không xoay sở được gì!
Sau khi suy tính cùng các anh em Cận Vệ, tôi và một số anh em cùng lên
xe Jeep chạy đến Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ với hy vọng được rời khỏi Việt Nam
trong những chuyến trực thăng di tản cuối cùng, chớ không thể bó tay đầu
hàng Cộng Sản được.
Nhưng chúng tôi không thoát được định mạng đã an bài, vì khi đến Tòa Đại
Sứ Mỹ nhìn thấy dân chúng đang chờ đợi ngoài vòng rào đông quá, không
thể nào trực thăng chở đi hết được vì đúng 12 giờ đêm 29-4-75 là hết
thời hạn di tản. Chúng tôi chờ mãi đến 5 giờ sáng ngày 30-4-75.
Thất vọng và chán nản quá, chúng tôi đành quay trở về dinh Độc Lập. Đầu
óc tôi cứ quay cuồng câu Nước Mất, Nhà Tan.
6 giờ sáng ngày 30-4-75. Chúng tôi hộ tống Tổng Thống Dương Văn Minh qua
dinh Thủ Tướng để họp Nội Các. Cộng quân bắt đầu pháo kích mạnh hơn vào
thành phố, dân chúng chạy loạn khắp nơi.... 9 giờ sáng, 2 chiếc trực
thăng dành riêng cho Tổng Thống cất cánh rời khỏi dinh Độc Lập do các Sĩ
Quan phi công bỏ đi đúng như dự tính, nhưng vì tôi không có mặt nên đành
lỡ chuyến. Dự đinh của chúng tôi sẽ đi khuya đêm 29-4-75, nhưng sợ cất
cánh ban đêm sẽ bị bắn vì có lịnh giới nghiêm, nên phải đợi đến sáng.
Trung Tá Lân, Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn An Ninh Danh Dự, Thiếu Tá Hậu,
Trưởng Khối An Ninh Phủ Thủ Tướng và tôi cùng bàn thảo nên thoát đi bằng
cách nào, nhưng vẫn vô kế, vì đường về miền Đông và miền Tây đều bị cô
lập. Chúng tôi nhìn nhau mà lòng buồn man mác.
Tiếng súng vẫn nổ vang rền trên các đường phố, máy truyền tin bên cạnh
chúng tôi vẫn vang lên lời báo cáo khắp nơi về. Cộng quân đang giao
chiến tại Gò Vấp. Ngã Tư Bảy Hiền đã thấy bóng Việt Cộng... Cầu Nhị
Thiên Đường đang đánh.... Tiểu Đoàn Dù đang đụng độ dọc theo các chốt
đóng trên xa lộ, v.v..
10 giờ 30, chúng tôi hộ tống TT Minh về dinh Độc Lập, trên tay chúng tôi
khẩu súng đã trở thành vô dụng, vì không được nổ súng trong mọi trường
hợp.... Anh em chúng tôi đưa mắt nhìn nhau mà không nói được lời nào.
Rồi việc phải đến đã đến, Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô
điều kiện, đúng như sự nghi ngờ về ám hiệu màu trắng tôi đã nêu trên.
Đầu hàng. Đầu hàng à.... Trời ơi!
Chúng tôi phải chịu nhục nhã như vầy sao ?
Tổ Quốc quấn khăn tang, mây che phủ đầu trên thành phố thân yêu… . Hàng
vạn nhà ra tro ra khói bốc cao trời.
Bài ca "Vuốt Mặt" như vang lên đâu đây.... Làm cho tôi tê tái. Giọng ca
uất hờn. Như tiếng nấc nghẹn ngào của Quê hương. VIỆT NAM ƠI! VIỆT NAM
ƠI!
Thật không còn gì đau đớn cho bằng việc tôi nhìn thấy cảnh mất nước do
một số người ham tranh giành ngôi vị. để rồi giờ đây đứng cúi đầu rước
quân thù trên thềm dinh Độc Lập. nơi mà cả thế giới nhìn vào trên bốn
ngàn năm lịch sử oai hùng của dân tộc.
*********
ắt đầu các tên Việt Cộng nằm vùng tiềm phục
trong các cơ quan lộ mặt trong dinh Độc Lập thì do tên thợ điện đứng ra
tiếp thu rồi giao lại cho đơn vị bộ đội Hương Giang chiếm giữ.
Sau 5 ngày bị quản thúc tại dinh Độc Lập, chúng tôi được thả về để chờ
lịnh tập trung cải tạo. Lòng tôi tan nát không còn nghĩ suy gì được nữa
cả. Tôi lang thang trên đường phố hết ngày này sang ngày khác. Từ thuở
nhỏ cho đến bây giờ tôi chưa bao giờ rơi nước mắt vì bị thương tích của
thể xác, nhưng sao bây giờ nước mắt tôi cứ tuôn ra không sao cầm lại
được!
Đến ngày chúng gọi tất cả Sĩ Quan đi trình diện học tập cải tạo mà tôi
vẫn chưa nghĩ ra được cách nào để hoạt động chống lại bọn Cộng Sản vì
thời gian phải trình diện quá ngắn và còn quá rối loạn, nên đành phải đi
trình diện học tập, mong nếu chúng giữ lời hứa là Sĩ Quan cấp Úy chỉ đi
học tập cải tạo 10 ngày, sau đó mới có cơ hội hoạt động được.
Ngày 28-6-75 là thời hạn cuối cùng, tôi đến trình diện tại trường Sơn Hà
(Dakao). Đến 2 giờ sáng ngày 29-6-75, chúng điểm danh và đưa chúng tôi
lên xe Molotova bỏ mui bố phủ kín lại trong khi di chuyển. Khoảng 4 giờ
sáng đến nơi, có người biết nơi đây là Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn 5 Công Binh
(Thành Ông Năm) căn cứ này còn nguyên vẹn. Khoảng 9 giờ sáng bọn chúng
ra lịnh chúng tôi đi thâu dọn tất cả đạn dược rơi rải khắp nơi trong
trại để giao lại cho chúng. Riêng tôi vẫn nghi ngờ bọn chúng không thật
sự giữ lời hứa, nên tôi lén đem giấu 5 trái lựu đạn M26 nơi đốóng cát
trước dãy trại của tôi ở.
Bắt đầu bọn chúng tổ chức chia chúng tôi ra từng khu vực, mỗi khu khoảng
150 người, mỗi đội gồm 5 hoặc 6 tổ, mỗi tổ 12 người. Tổ chức nhà bếp,
nhà cầu và đào giếng nước. Tôi càng nghi ngờ hơn về chánh sách của bọn
chúng, vì nếu chỉ đi học tập trong vòng 10 ngày thì bọn chúng bắt chúng
tôi phải làm tiện nghi có tánh cách dài hạn để làm chi ?
Đến ngày thứ 3, chúng bắt đầu thâu tiền cơm 10 ngày, bọn chúng cho chúng
tôi uống thuốc ngừa sốt rét ? trong 5 ngày và phải uống trước mặt của
chúng nó, tôi không tin vì nghi ngờ nên chỉ ngậm trong miệng đem ra
ngoài bỏ đi.
Lần lựa ngày này sang ngày khác, đã đến 10 ngày rồi mà bọn chúng không
nói năng chi cả, có người hỏi thì chúng trả lời các anh chưa học tập bài
nào cả nên chưa về được. Rồi một tháng trôi qua chúng vẫn im lìm.
BẮT ĐẦU NGHIÊN CỨU VÀ TỔ CHỨC VƯỢT TRẠI TÙ

Lợi dụng ban ngày còn đi qua lại các trại khác
được, tôi qua khu trại kế bên để tìm người đồng tâm ý để sắp đặt kế
hoạch từ trong trại này thoát ra rồi phải làm thế nào v.v.. Khoảng 2
tuần sau, tôi đã tổ chức được 2 tổ, mỗi tổ là 2 người, tổ 1 tên Nam và
Dũng, Nam là cháu của Giám Đốc Quan Thuế phi cảng Tân Sơn Nhứt, còn Dũng
thì có nhà thuốc Tây ở đường Bùi Viện Quận Nhì Sài Gòn, gia đình của 2
anh có ghe tàu sẵn, đang chờ 2 anh ra để vượt biên.
Tổ 2 Hoàng Trinh, Sĩ Quan Đại Đội Biệt kích Dù đã từng nhảy xuống Hạ
Lào, và Nguyễn Hoành, Đại Đội Trưởng Biệt Động Quân. Anh Hoành biết được
2 thứ tiếng Thượng phổ thông. Dự tính tổ 2 khi ra khỏi trại sẽ vượt biên
giới qua Thái Lan để tìm đường giây kháng chiến trở về giải phóng đất
nước..... Trong 2 tổ, tôi thích tổ 2 hơn vì đồng quan điểm là chúng tôi
phải làm gì cho quê hương đất nước chớ không thể khoanh tay. Nhưng vẫn
phải chờ cơ hội, vì các anh đều còn hy vọng là được bọn CS thả về rồi
mới xoay xở về sau.
Tháng thứ 2 đã trôi qua, bọn chúng bắt đầu cho học tập 10 bài chánh trị
trong tháng thứ 3. Nội dung các bài có tánh cách phỉ báng chế độ VNCH,
và ngụ ý tất cả người dân miền Nam đều có tội với cách mạng của bọn
chúng qua nhiều hình thức khác nhau…. Tháng thứ 4, sau khi học xong 10
bài, bọn chúng bắt tất cả phải khai tội đối với cách mạng, và dụ dỗ phải
khai cho thật, chúng sẽ khoan hồng v.v..
Tôi rất nóng lòng vì biết bọn chúng chẳng bao giờ thả tôi ra. Tôi giấu
nhẹm không khai thành tích diệt Cộng Sản khi còn ở đơn vị Người Nhái đã
từng tiêu diệt VC trong những lần phục kích và đột kích vào mật khu của
chúng trong vùng Rừng Sát Nhà Bè, trong suốt mấy tháng hành quân phối
hợp cùng với Seal Team Hoa Kỳ. Nhưng tôi vẫn lo không biết là hồ sơ
trong đơn vị còn nguyên hay đã được tiêu hủy trước khi chúng vào.
Tôi tổ chức một người bạn ngày trước làm việc tại BTL/HQ/P4 ở gần phòng
tắm của bọn cán bộ để lấy tin tức tình hình ở ngoài như thế nào, sau mấy
tuần tôi được biết ở ngoài đã có biểu tình đòi chồng con đang đi học
tập, và có đụng độ ở Đèo Cheo Reo và Đèo An Khê, Ban Mê Thuột có pháo
kích do phần tử ly khai của Quân Đội VNCH thực hiện.
Những tin này càng làm cho tôi tin chắc các Sĩ Quan sẽ khó mà được chúng
thả về. Tôi đem tin này bàn với tổ 1, Nam và Dũng đều không dám vượt
rào, tôi đành phải nói xuôi theo là cùng chờ đợi. Tôi bàn với tổ 2,
Hoành và Trinh hơi ngần ngại, nhưng tôi khích động nên 2 anh đồng ý vượt
rào, kế hoạch từ trong ra ngoài thì bên của ai nấy lo, và hẹn điểm gặp
nhau ngoài vòng rào là bãi tha ma cách vòng rào phía Đông chừng 700
thước. Tôi đem những điều đã nghiên cứu như sau cho Hoành và Trinh biết:
Hệ thống phòng thủ: Cô lập từng khu; an ninh mật báo từng tổ (vì thế mà
tôi không tổ chức vượt rào trong đội của tôi); giới hạn đi lại qua con
đường nhựa; ban đêm có lính gác đôi lưu động có đèn rọi sáng cả con
đường nhựa; bờ đê cao 2 thước; 6 lớp consertina; 4 lớp rào kẽm gai, rào
đứng, xiêng, ngang và hào chống chiến xa sâu 4 thước, rộng 5 thước; 2
giờ đổi gác 1 lần; ở ngoài vòng rào khoảng 2 giờ có toán tuần tiễu (đoán
theo tiếng chó sủa).
Khi thoát ra đến điểm hẹn ngoài vòng rào nơi bãi tha ma, nếu quá 2 tiếng
đồng hồ không gặp nhau thì tự tìm về Sài Gòn, qua ngày sau sẽ gặp nhau
tại điểm hẹn ở xa lộ Biên Hòa, trễ nhứt là ngày thứ 3 sau khi ra được
phải gặp nhau để bàn tính thêm kế hoạch vượt biên giới. Bây giờ chúng
tôi chỉ còn chờ cơ hội và thời tiết thuận tiện.
**********
Đời sống của các Sĩ Quan VNCH trong các trại
giam cầm mà bọn CS gọi danh từ thật hoa mỹ là "Học tập cải tạo" thực ra
chỉ để trả thù tập thể Quân Đội VNCH, giết lần mòn vì đói thiếu dinh
dưỡng, bệnh tật vì không có thuốc men. Trong tổ của tôi có anh bạn Trần
Văn Hồ bị bệnh tiêu chảy suốt 1 tuần lễ mà phòng Y Tế không cho một giọt
thuốc nào cả, đến tuần lễ thứ 2 thì bệnh biến chuyển qua kiết lỵ, anh em
cùng tổ lo cho nhau chớ phòng Y Tế không ngó ngàng gì đến. Ăn uống quá
thiếu dinh dưỡng, chỉ trong vòng 2 tháng mà trại đã có khoảng 40% bị
liệt bại.
Tôi nghi ngờ là bị chúng đầu độc bằng thuốc mà bọn chúng đã cho uống khi
mới vào trại, từ khi uống thuốc vào, khoảng chừng 2 tháng rưởi sau, đang
đứng mà té lúc nào chẳng hay.
Trong suốt gần 4 tháng mà chúng tôi chỉ ăn được mỗi tháng một lần thịt
heo, mỗi người được khoảng 8 gram thịt, mỡ lẫn da. Tôi nghĩ may là trại
này còn được mấy con heo do trại gia binh quân đội VNCH bỏ lại, nên bây
giờ chúng tôi mới được ăn thừa của bọn chúng bỏ ra cho. Thèm thịt, thiếu
mỡ, không đường, nên chúng tôi bắt tất cả con gì ăn được mà ăn như chim
chóc, rắn rết, chuột, ếch, cóc nhái, ảnh ương v.v..
Còn về tinh thần anh em Sĩ Quan thì lụn bại thê thảm, tất cả đều bi quan
về cuộc chiến thảm bại vừa qua, ý nghĩ của họ mong mỏi được CS khoan
hồng mà thả họ về với gia và đình phục hồi đời sống cũ. Cũng trong trại
tôi có gặp 2 người bạn ở trại kế bên, một anh lúc trước chỉ huy toán
phòng không dinh Độc Lập, thuộc toán 4, khi chiếc phản lực cơ do tên
phản nghịch Nguyễn Thành Trung, mang bom dội vào dinh Độc Lập, anh đã
kịp thời bắn chận nên lần thứ 2 bom thả đã lệch ra ngoài vì không còn
chính xác, và anh Trưởng Toán gác dinh Độc Lập. Tôi đem ý định vượt rào
thì anh nào cũng không dám thực hành mà cũng chỉ mong được thả về đoàn
tụ với gia đình.
Thời cơ đã đến do việc chúng nó phát động phải tích cực lao động nặng.
Tôi suy đoán là chúng nó sắp chuyển chúng tôi đến trại khác xa xôi và
làm việc nặng nhọc hơn. Tôi bàn tính với Hoành và Trinh nếu để chúng đưa
đi trại khác thì chúng ta không thể biết được tình hình nơi đó, nếu muốn
vượt trại chúng ta sẽ gặp nhiều khó khăn hơn, tôi đề nghị vượt trại vào
ngày 16-9 âm lịch là ngày 21-10-75. Hoành và Trinh hỏi tôi tại sao lại
chọn ngày trăng tròn mà ra ? Tôi trả lời: Mình chọn ngày đó là vì yếu tố
bất ngờ, bọn chúng nghĩ chúng ta không dám ra trong những đêm có trăng
sáng, chúng sẽ chểnh mảng hơn, và kế hoạch tôi là sẽ vượt ra lúc 8 giờ
tối, sau 7 giờ 30, giờ điểm danh thì bọn chúng thay vọng gác mà đi tuần
dưới đất, và trước 9 giờ giới nghiêm, và giờ đó trăng chưa mọc. Còn
thoát ra thì 2 anh nghiên cứu như thế nào thì hãy cố gắng vượt ra, còn
tôi thì đã có cách riêng. Chúng ta phải đi riêng rẽ, chúng nó khó phát
giác hơn.
Tôi khích động tinh thần:
"Chúng ta toàn là tay thiện chiến, Biệt Động Quân, Biệt Kích Dù và Người
Nhái, chúng ta phải chứng tỏ cho chúng nó biết khả năng của chúng ta".
Tôi tiếp: Tôi nói thật với các anh, nếu ngày mai này chúng nó thả tôi ra
mà ngày hôm nay có cơ hội tôi cũng thoát ra trước khi chúng nó thả.
Tôi khích động tinh thần và danh dự Binh Chủng của các anh nên 2 anh
đồng ý theo chương trình đã hoạch định cho ngày 21-10-75.
*************
Vượt trại! Vượt trại! Tiếp theo có tiếng súng nổ
và tiếng kẻng đánh liên hồi... và lịnh tập họp điểm danh lúc 2 giờ khuya
đêm 14-10-75. Tập họp điểm danh, báo cáo quân số xong, chúng tôi được
biết có 2 Sĩ Quan cấp Đại Úy đã vượt rào bị phát giác và bị bắn chết 1
anh tại hàng rào và 1 anh bị thương nơi chân, chúng kéo lôi anh này vào
để tại hội trường để cảnh cáo chúng tôi hãy xem đó làm gương. Sáng ngày
các anh em bó chiếu xác anh đã chết và chôn tại chỗ, còn anh bị thương
thì chúng mang đi đến các trại khác để cảnh cáo.
Sự việc xảy ra đã làm cho Hoành và Trinh mất tinh thần không ít, tôi cố
gây niềm tin cho 2 anh, phân tách kỹ những lỗi lầm của nạn nhân cho
Hoành và Trinh thấy: Các anh đó chọn thời điểm không đúng, 2 giờ khuya
thanh vắng quá, nhằm ngày mồng 9 âm lịch, giờ đó có trăng non, và mặc đồ
màu xanh lợt nên dễ bị phát giác, và còn nhiều chi tiết mà tôi không
biết rõ.
Chúng tôi cùng kiểm soát lại kế hoạch xem coi có cần bổ khuyết hay không
?Và chúng tôi cương quyết vượt trại giam, với tinh thần bất khuất, bất
chấp mọi nguy hiểm sẽ xảy ra cho mình. Tôi rất tin tưởng mình sẽ vượt ra
an toàn. Chúng tôi chờ đợi chỉ còn đúng 1 tuần là đến ngày quyết định
với cảnh giác căng thẳng tột độ.
21-10-75. Ngày, giờ quyết định đã đến, lúc 7 giờ ti tôi mang qua trại
của 2 anh Hoành và Trinh 3 trái lựu đạn M26 (tôi đã giấu trong đống cát
như đã kể trên) còn tôi giữ lại 2 trái. 2 anh ngạc nhiên, tôi giải thích
cho 2 anh biết và căn dặn, nếu lỡ bị phát giác khi trốn ra thì phải hy
sinh chớ đừng để chúng nó bắt lại. Chúng tôi cùng kiểm điểm lại lần cuối
cùng kế hoạch đào thoát. Hoành là người hoạt bát và nhờ thế nên Hoành đã
nhờ cán bộ mua giùm 100gr café và đường cách nay hơn một tháng, tôi đã
dặn Hoành để dành lại cho ngày hôm nay 3 ly café đặc. Chúng tôi vừa uống
vừa tính toán, khi xong hết, Hoành nói là cần mang theo mền và mùng vì
đó là kỷ niệm đời binh nghiệp của anh. Tôi không đồng ý nên ngăn cản.
Trong lúc đó lại thấy gió thổi mạnh và mây đen kéo đến làm cho anh em
chúng tôi lên tinh thần vô cùng, tôi thầm nhủ "Trời thương anh em chúng
con rồi!”.
19 giờ 30 là giờ tập họp điểm danh, tôi từ giã Hoành và Trinh hẹn đúng
20 giờ vượt trại và gặp nhau ngoài điểm hẹn tại bãi tha ma. Tôi lần ra
hàng rào kẽm gai cô lập trở về trại mình. Tôi đã tạo thói quen là cứ đến
khoảng 19 giờ là tôi giăng mùng sẵn để các người cùng tổ không để ý tới
tôi, hôm nay cũng vậy. Ttôi từ bên trại của Hoành và Trinh về, tập họp
điểm danh xong tôi liền vào mùng nằm, chừng 20 phút sau, tôi ra đi tiểu,
lúc này gió thổi rất mạnh, mưa bắt đầu rơi, trại chúng tôi cũng như trại
của vệ binh VC đều lo đóng cửa sổ, thừa lúc lộn xộn đó tôi vội bước qua
hàng rào kẽm gai lọt qua khu vực của vệ binh VC, đi nhanh ra bờ đê và
lăn nhanh qua bờ đê, tôi nằm im để nghe động tịnh và móc ra 2 miếng cao
su, (tôi lấy ruột xe mà bọn VC bỏ lại khi chúng cắt các vỏ xe máy ủi đất
để làm dép, tôi đã cắt lỗ để xỏ mấy ngón tay và đem cất giấu) tôi mang 2
bao tay giả vào và bò đến hướng đã định, dùng bao tay giả đó để nâng đỡ
kẽm gai, lách mình chui qua, tôi làm rất thận trọng, nhanh nhẹn và chính
xác, vì tôi đã nghiên cứu thật kỹ từ loại kẽm gai và cách thức rào ra
sao như rào đứng thì bợ lách như thế nào, rào xiên thì phải nâng đẩy và
đưa chân nào ra trước, rào thấp ngang mặt đất thì phải nằm ngửa và đỡ
từng sợi kẽm gai, rào consertina phải lách và chui qua làm sao.... Vì
thế nên vượt qua 10 lớp kẽm gai hàng rào và hào chống chiến xa, chỉ
trong vòng 15 phút đến 20 phút thì tôi đã có mặt ngoài hàng rào rồi, tôi
tiến nhanh vào lũy tre cách hàng rào khoảng 50 thước ẩn mình vào bóng
tối của lũy tre để tránh đường chân trời.
Mưa bắt đầu nặng hột, tôi thu mình dưới lũy tre cố giương mắt nhìn về
hướng điểm hẹn bãi tha ma cách đó khoảng 100 thước, vì đề phòng 2 anh
bạn bị lộ có thể chỉ điểm cho cán bộ bao vây.
Cơn mưa kéo dài đến khoảng 11 giờ đêm, vẫn không thấy bóng dáng của
Hoành và Trinh, còn ở trong khu trại giam cũng không nghe báo động. Mưa
đã tạnh lần, tôi di chuyển ngược lên hướng đào thoát của Hoành và Trinh
để đón cũng không thấy tăm hơi chi cả. Tôi nóng lòng, suy nghĩ không lẽ
2 anh bạn này không dám vượt ra ? Càng về khuya càng cảm thấy nhiều nguy
hiểm! Nhưng tôi vẫn cố gắng đợi chờ, câu hỏi tại sao, tại sao cứ loanh
quanh trong đầu óc của tôi. Cảnh đêm khuya hoang vắng cạnh bãi tha ma
trong rừng chồi nó âm u làm sao! Tôi cố chờ mãi đến khoảng 2 giờ khuya,
bầu trời lại bắt đầu vần vũ, mây đen kéo đến mờ mịt. Biết sắp có trận
mưa to, tôi lo ngại quá, vì điểm hẹn chỉ cách hàng rào trại giam có
khoảng 700 thước. Trời mưa mà tôi đổ mồ hôi hột vì lo cho 2 bạn của
mình, tôi không nở bỏ đi. Nhưng ở lại thì thập phần nguy hiểm có thể bị
chúng bao vây bắt lại.
Tôi đang suy tính bỗng nghe có tiếng nói và tiếng chân người đi tới, tôi
cấp tốc nép mình vào bụi cây, lòng hoang mang hồi hộp chờ đợi. Khi đoàn
người đến gần, tôi lắng nghe tiếng nói chuyện. À! thì ra là những người
dân trong thôn xóm đang gánh rau cải ra chợ bán! Ý nghĩ thoáng nhanh
trong đầu tôi, mình phải rời khỏi nơi nguy hiểm này trước, về Sài Gòn
rồi sẽ gặp nhau tại điểm thứ 2 an toàn hơn, vì địa thế nơi đây tôi không
biết nên sẵn dịp này tôi nương theo những người gánh hàng để tránh các
chốt chận khám xét của VC.
Và tôi đã ra đến chợ Hốc Môn, tôi đón chuyến xe đò sớm nhứt và về đến
Sài Gòn lúc 7 giờ sáng. Tôi đến nhà người bà con bên vợ để hỏi thăm tin
tức và liên lạc với vợ con, tôi và vợ con gặp lại nhau sau 6 tháng qua
người bà con này, tôi ở tạm đây vài hôm để liên lạc với Hoành và Trinh,
nhưng suốt mấy ngày liền tôi đến điểm hẹn đều không có tin tức của 2
anh. Thế là chương trình dự tính vượt biên giới qua Thái Lan không
thành!
*************
Sau mấy ngày ở tạm nhà người bà con, tôi từ giã
và di chuyển qua nhà anh Nguyễn Thành Nhơn ở tạm phía sau để liên lạc
lại với các anh em đồng chí hướng.
Trước năm 1975 anh Nguyễn Thành Nhơn, là Chủ Tịch Tổng Cuộc Phong Trào
Thể Dục Thẩm Mỹ Việt Nam và cũng là Chủ Tịch Tổng Cuộc Thám Hiểm và Săn
Bắn Cá Dưới Biển VN. Giám Đốc Chương Trình Sức Khỏe Giống Nòi, Chương
Trình Con Kiến Càng trên Đài truyền hình VN. Đối với tôi, anh Nguyễn
Thành Nhơn là người thầy và cũng là người anh tinh thần của tôi, vì
trước khi nhập ngũ vào Quân Đội tôi đã được anh huấn luyện trở thành
huấn luyện viên của phòng tập Trung Ương, và tôi cũng là hội viên của
Hội Thám Hiểm và Săn Bắn Cá Dưới Biển VN.
Tôi ở ẩn trong nhà anh và thường xuyên liên lạc với các anh em cùng đơn
vị (Xin tạm dấu tên vì các anh em còn đang ở VN). đang chờ đợi những
đường dây yểm trợ từ ngoài về để cùng nhau hoạt động lật đổ chế độ Cộng
Sản bạo tàn này.
NGÀY ĐỊNH MẠNG ĐƯA TÔI VÀO TÙ LẦN THỨ NHÌ
(Ngày 9-4-76-Sau 6 tháng vượt trại tù Thành Ông Năm)
Vào lúc 7 giờ tối, tôi đang đứng chờ vợ tôi làm việc ở tòa soạn báo Tin
Sáng, mãn việc ra về, tôi đón nàng để đưa lại chiếc xe velo solex cũ
(không có gắn máy). Vì thương con sợ con bị kẹt chân vào bánh xe làm con
đau vì nó đã bị kẹt một lần rồi nên tôi vừa gắn chiếc yên nhỏ để cho vợ
tôi chở con tôi. Vì thân phận vượt tù nên tôi phải trốn tránh không thể
để cho bà con thân thuộc biết được. Tôi đang đứng chờ đợi ở trước trụ sở
Khóm mà tôi không biết vì chúng không có treo bảng, khoảng chừng 15
phút, tôi thấy 2 tên công an trong trụ sở đi đến hỏi giấy tờ của tôi,
tôi lo sợ nhưng không còn tránh né được nữa đành phải đưa giấy tờ ra,
chúng giữ giấy tờ của tôi và mời tôi vào trụ sở, tới lúc đó tôi mới biết
là đang đứng trước hang cọp. Vừa lúc đó vợ tôi nghỉ việc ra về vừa đi
tới, tôi vội trao chiếc xe cho vợ tôi và dặn "Anh đang bị theo dõi em
hãy đi nhanh đi. Hãy lo cho con.”
Rồi tôi theo công an vào trụ sở. Sau khi xem giấy tờ tên công an nghi
ngờ giấy tờ của tôi là giả, nên giữ tôi lại để chờ điều tra lại địa chỉ.
Lòng tôi lúc đó như lửa đốt vì tôi biết sẽ không thoát được, giấy tờ của
tôi toàn là giả thì làm sao chứng minh được ?
Tôi nghĩ hậu quả sẽ vô cùng thảm khốc, nên có ý định hạ tên công an đang
canh gác. Tôi xin đi tiểu để xem địa thế. Xung quanh tòa trụ sở này
tường cao khoảng 2 thước phía trên đầu tường có gắn miểng chai lại còn 1
vòng kẽm consertina, phía sau có dãy nhà bếp, phòng chứa củi và nhà cầu,
trên nóc nhà cũng có vòng kẽm gai consertina. Tôi vào phòng tiểu, suy
tính chỉ có phía sau là hy vọng nếu nhảy qua được phía bên nhà khác. Tôi
nghĩ đã đến đường cùng rồi nên quyết định hy sinh nếu không thoát được
thì thôi! Tôi ra khỏi nhà cầu và bước theo tên công an bất thần tung ra
một quả đấm vào hàm hạ của tên này, nhưng rủi thay, tên này trước khi bị
ngất xỉu đã la lên một tiếng, tôi chạy nhanh lấy đà đạp lên thành tường
nhảy lên nóc nhà phía sau, chạy dọc theo đường kẽm gai, trong lúc đó bọn
công an túa ra và bắn theo tôi, tôi vẫn cố chạy trên nóc nhà, dự tính
nhảy qua nóc nhà khác, bỗng tôi bị trượt chân vì miếng ngói tróc xi măng
nên đành nhảy trở xuống đất. Thôi rồi! Mặc tình cho bọn công an xúm lại
còng tay tréo ra sau rồi chúng thi nhau đấm đá vào thân thể tôi, chúng
treo tôi lên cửa sắt với chiếc còng sắt, sức nặng của thân hình trên 60
ký lô mà bị treo hỏng chân tréo tay như thế, nên tôi không còn sức chịu
đựng với những trận đòn như mưa bấc. Thân mình tôi gục xuống như tàu lá
rũ.
Sáng hôm sau chúng đưa tôi lên khẩu cung, để tránh liên lụy cho anh
Nguyễn Thành Nhơn, tôi khai theo lời sắp sẵn là "sĩ quan trốn trại học
tập về thăm nhà, nhưng không dám về nhà vì biết công an canh chừng nên
phải lang thang ngoài chợ trời, đêm đến thì mướn chiếu ngủ ngoài nhà ga
xe lửa v.v.". Sau đó bọn chúng giải tôi qua phòng giam Quận Nhì, trên
đường đi tôi có ý định nhảy xuống xe nhưng không có cơ hội vì chúng nó
còng tay tôi chung với ông ký giả Trần Hồng Thu. Đến Quận Nhì, sau khi
làm thủ tục, chúng đem tôi và ông Thu vào phòng giam.
Nơi đây thật đúng là địa ngục ở trần gian! Chúng vừa mở 2 lớp cửa sắt
ra, mùi hôi nồng nặc, chúng xô tôi vào trong rồi khóa cửa lại. Cảm tưởng
cửa tôi nơi đây như là nhà thương điên. Trong ánh sáng âm u tôi thấy
không biết là bao nhiêu người, thân hình gầy guộc trần truồng như nhộng.
Lớp thì bất động miệng thều thào. Còn những người mạnh hơn thì bao quanh
tôi, xô đẩy nhau dành được đến gần tôi, thật là một cảnh tượng kỳ lạ mà
tôi chưa bao giờ thấy. Tên đại diện trại giam phải đánh đập la thét
những người này mới chịu dang ra khỏi tôi, tên đại diện hỏi tôi có mang
theo thuốc lá không ? Tôi trả lời không có vì tôi không biết hút thuốc.
Tốp người vây quanh tôi mới thở dài chán nản. À! thì ra các người tưởng
tôi mới vào có đem theo thuốc lá nên mới tranh nhau để xin thuốc lá. Tên
đại diện trại giam đưa tôi vào trong một phòng giam phía trong nữa rồi
khóa lại. Các người vây quanh hỏi thăm tôi đủ chuyện, tôi chán nản ngồi
bó gối không muốn trả lời, vì biết có trả lời cũng không xuể.
Đời sống trong trại giam này chắc không có ai tưởng tượng được, phòng
còn để bảng phòng giam rộng 8 thước vuông, phạm nhân giam chứa tối đa là
40 người, nhưng bọn CS đang giam gần 300 người. Nơi đây nếu người nào
đứng lên thì mất chỗ ngồi, và không đủ không khí để thở, vì vậy mà đêm
ngày gì phạm nhân cũng mình mẩy ướt đẫm mồ hôi, ăn uống không có dinh
dưỡng, một bữa ăn là 2 chén cơm lường bằng chén nhỏ cho mỗi người, đổ
chung vào cái thau nhôm với 4 giá canh rau muống nấu với muối hột, 6
người ăn chung với 3 chiếc muỗng chia nhau múc ăn, vì tranh ăn nên bữa
ăn nào cũng cãi vã, đánh đấm nhau, ồn ào suốt ngày đêm. Ban đêm thì nằm
sắp chồng lên nhau, tới lỗ cầu tiêu cũng được nhét giẻ lại để nằm, các
song sắt trong hai phòng giam riêng cũng được chia nhau đeo vào song
bằng chiếc áo lót cột ngang lưng để ngủ.
Vì tình trạng nêu trên nên những người bị bắt vào đây chỉ trong vòng 2
tháng là bắt đầu bị ghẻ, loại ghẻ thiếu dinh dưỡng này nổi lên thành
vành chính giữa thì lõm sâu và chảy nước vàng. Nước vàng này chảy đến
đâu thì ghẻ lở chỗ đó, và sau đó bị liệt bại, ban đêm bị ghẻ lở hành hạ,
bệnh nhân la khóc vang trời. Tôi có cảm tưởng như đang ở Địa ngục, thỉnh
thoảng có người chết vì liệt bại, thân xác nạn nhân dược lôi ra khỏi
phòng.
Tôi cố gắng giữ sức khỏe, hàng ngày đều tập thể dục, chạy bộ 400 bước,
hít đất 100 cái, tập tay mỗi bên 60 cái. Chịu đựng được đến tháng thứ 5,
tôi cảm thấy yếu lần.
Dự tính phá trại giam Quận Nhì.
Tôi đã có ý nghĩ phải phá trại giam này từ ngày đầu khi đặt chân vào đây
nhưng chưa tìm được người thích hợp nên phải chờ đến bây giờ.
Trong thời gian ở đây tôi quen với một ông Trưởng Ty Xã Hội tại Tỉnh ở
Cao Nguyên (xin tạm dấu tên vì còn đang ở Việt Nam). Ông là đảng viên
của Đại Việt. Ông thường kể cho nghe về quá trình hoạt động của Đảng và
về cá nhân của ông.
Vào khoảng một tháng nay, tôi để ý theo dõi một người bị bắt về tội tư
sản mại bản, vì tồn trữ 60 tấn café sống mà không khai báo, tên là Hồ
Ngọc Ẩn. Nhà ở đường Tự Do, mỗi tuần đều phải lên phòng điều tra lấy
khẩu cung, tôi làm quen và hỏi thăm ý định sau này của anh, anh cho biết
là không thể chịu đựng nổi ở nơi đây, và anh có ý định trốn. Tôi gợi ý
hỏi Ẩn, nếu muốn thoát ra, anh phải làm sao? Ẩn nói về cách trốn của Ẩn,
tôi thỉnh thoảng bổ túc cho Ẩn, tôi thấy Ẩn có vẻ vui mừng.
Vì tôi nóng lòng tìm người để thực hiện kế hoạch của tôi nên tạm chọn
Ẩn, nhưng tôi chưa cho Ẩn biết ý định của tôi. Ngày hôm sau Ẩn được gọi
lên lấy khẩu cung lúc 8 giờ sáng thì khoảng 9 giờ có tiếng gọi tên tôi
và ông Trưởng Ty, khi tôi và ông vừa ra khỏi phòng giam thì đã có tên
cán bộ trưởng trại và 2 tên công an ôm súng AK, tên cán bộ ra lịnh còng
tay tôi và ông Trưởng Ty rồi quay qua chỉ mặt và nói với tôi: "Tao đã
biết kế hoạch của chúng mày rồi, dự định Chúa Nhật này sẽ giết cán bộ,
cướp vũ khí, phá trại giam", rồi quay lại bảo 2 tên công an đem chúng
tôi qua trại giam đặc biệt. Phòng giam đặc biệt bề dài 3 thước, bề ngang
rộng 1 thước, nhốt 10 người, tiêu tiểu tại chỗ, lỗ thông hơi để thở thì
vừa lọt bàn tay, và đến giờ cơm được bọn cán bộ đưa vào mỗi tù nhân là
một chén cơm đút vào vừa lọt cái lỗ thông hơi. Sự việc xảy ra tôi nghĩ
là do tên Hồ Ngọc Ẩn phản bội đã báo cáo với công an để lập công.
Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại! Ngày ở trong tù sao mà dài lê
thê, ngột ngạt, nặng nề ghê gớm vô cùng.
Ngồi bó gối, tôi ôn lại những chuỗi ngày trong tù cải tạo lần trước, tôi
đã nghe người bạn khác trại kể về một Kha Văn. G. Sĩ Quan Bộ Binh, sau
khi mãn khóa trường Sĩ Quan BB Thủ Đức, anh được biệt phái về Bộ Kinh Tế
hay Bộ Tài Chánh chi đó! Khi vào trại cải tạo, anh vỡ mộng vì anh là
cháu ruột của 2 tên cán bộ cao cấp, hiện đang giữ chức vụ lớn trong bộ
Văn Hóa ở Sài Gòn. Anh dựa vào 2 tên cán bộ cao cấp là chú và bác của
mình, và theo lời bác chú nên đi học tập tốt để được chú bác lãnh về.
Nào hay đâu 2 tên tập kết chú bác đó chẳng dám đứng ra bảo lãnh. Vỡ
mộng, anh đâm ra liều lĩnh, sau 3 tháng cải tạo và học xong 10 bài chính
trị, chúng dụ dỗ tất cả phải khai cho thật để được khoan hồng, anh chỉ
ghi lên các bài học là mình chẳng có tội gì đối với cách mạng cả. Cho
đến một buổi chiều, anh được ban quản giáo gọi lên phòng cán bộ. Và một
lúc sau có tiếng súng nổ. Đến sáng hôm sau, anh em không còn thấy anh ở
chung trại. Và khoảng 1 tuần sau, anh em lại thấy một Kha Văn. G. thân
hình tiều tụy đang bị còng tay chân lại bỏ ngồi trước sân cờ, nơi chân
anh bị vết đạn lên mủ lở loét, ruồi nhặng bu đen. Tôi ở xa trại anh nên
không hiểu chuyện gì. Và đêm hôm sau tôi được bạn kể lại. Anh tự biết
mình không thể sống được, nên đã chửi và nói lên những ẩn ức của anh đối
với người thân là Cộng Sản. Trong đêm được gọi lên phòng quản giáo, anh
đã thẳng thắn đấu lý với tên quản giáo và tên quản giáo đuối lý tức giận
móc súng ra bắn anh bị thương nơi bắp chân, rồi giam anh vào phòng,
không đếm xỉa gì đến vết thương của anh. Sau vài ngày vết thương lỡ ra
và có giòi. Anh chửi. Chửi vang vang. Kết quả mà anh mong muốn đã được
như ý. Một cách tàn nhẫn phũ phàng. Là anh đã lãnh mấy nhát búa đóng
đinh đập vào đầu! Kha văn G. đã vĩnh viễn nằm yên trong lòng đất mẹ đầy
đau đớn tủi hờn!
Thiếu Úy Trần tấn Mao, Sĩ Quan tiếp liệu Người Nhái đã buồn rầu, khóc
thương cho gia đình 14 đứa con đói khổ của mình, tôi thường khuyên và
gợi ý vượt trại với anh. Nhưng biết mình già yếu, không đủ can đảm vượt
trại. Anh chỉ mong được Cộng Sản giữ lời khoan hồng thả anh về đoàn tụ
với gia đình. Anh khóc mãi. Khóc đến mù đôi mắt!
Tôi buồn. Tôi suy tư, những hình ảnh sắt máu gớm ghê chẳng bao giờ tôi
quên được! Tôi căm thù, uất hận. Tôi nguyện sẽ đem hết sức mình để làm
những gì mà tôi có thể làm được, để đóng góp cho ngày lật đổ Cộng Sản,
giải phóng quê hương được trở lại ngày tự do tươi sáng. Nước mắt tôi
rơi. Đúng tôi khóc chứ! Tôi khóc vì căm thù, vì uất hận, hổ thẹn lớp
người chúng tôi đã để mất nước. Việt Nam ơi! Việt Nam ơi! Chúng con phải
làm sao ? phải làm gì cho tổ quốc ? Rồi bây giờ tôi lại đang sa vào lao
lý, biết bao giờ tôi thoát được nơi đây ?
Sau 10 ngày giam tôi nơi biệt phòng để chúng điều tra lại, nhưng không
ra manh mối, nhưng chúng không dám trả tôi về phòng giam cũ, chúng
chuyển tôi qua phòng giam Quận Nhứt kiên cố hơn. Tôi vừa vào phòng giam
thì đã thấy 2 người bị giam bên quận 2 là anh Tiến, Trung úy Cảnh Sát và
ông Trưởng Ty. Chúng tôi chào mừng nhau và với các bạn tù mới, trong
phòng giam này có một băng đảng cướp có súng nổi tiếng trước năm 75, là
băng đảng Đà Lạt. Trong khoảng thời gian trước năm 75, băng đảng này đã
từng tranh giành ảnh hưởng khu vực làm ăn của nhau với băng đảng Đại
Cathay ở vùng Sài Gòn. Bằng đại diện cho 4 anh em trong băng đảng, đến
gặp tôi chào hỏi và ngỏ lời nhờ tôi đứng ra sắp xếp kế hoạch phá trại
giam này, Bằng nói: "Tụi em đã nghe tiếng anh đã từng vượt trại tù cải
tạo, và vừa rồi lại bị bể kế hoạch phá trại giam ở Quận Nhì v.v.". Tôi
chỉ cười mà không trả lời.
Mỗi ngày Bằng và các anh em đều đến ngồi chung và tâm sự. Bằng kể lại
chuyện xưa và nói: "Chúng em ngày trước chỉ biết ăn chơi du đãng du
thực, phá phách. Trốn tránh không chịu đi lính để bây giờ chúng nó chiếm
miền Nam tất cả đều đói khổ. Bây giờ tụi em hối hận quá! Mong nếu tụi em
ra được lần này, tụi em nhứt định phải tìm cách phá tụi nó.”
Vì tôi vừa bị phản bởi tên Ẩn, nên thận trọng hơn, tôi đã nghĩ cách phá
chỗ này rồi nhưng còn giữ kín. Tôi hỏi Bằng và anh em có được thăm nuôi
không ? Bằng đáp hàng tuần đều được thăm nuôi, tôi nói với Bằng hãy bảo
người thăm nuôi gởi vào một típ kem đánh răng chứa Acid nguyên chất, khi
nào có rồi thì cho tôi hay và tôi dặn Bằng đừng hỏi tại sao, Bằng thấy
tôi đã chịu giúp thì rất vui mừng, hứa sẽ làm theo lời dặn của tôi.
Sắp đặt kế hoạch phá trại giam Quận Nhứt
Nhưng đêm 4-10-76, cán bộ vào thông báo ngày mai tôi và một số người sẽ
chuyển trại trong đó có ông Trưởng Ty và Tiến. Tin này làm cho Bằng và
các anh em trong băng đảng lo buồn, Bằng nói: "Anh rời khỏi nơi đây tụi
em không biết làm sao!”. Tôi bèn họp các anh em Bằng lại và nói: "Trước
khi tôi đi, tôi sẽ chỉ kế hoạch lại cho các anh, bây giờ các anh em cho
tôi biết trong phòng giam này chỗ nào yếu nhứt ?". Anh em Bằng nói: "Tụi
em ở đây gần một năm rồi mà vẫn không nghĩ ra vì tường dầy 2 tấc, song
sắt to bằng cườm tay, nóc và nền đúc xi măng, cửa sắt phải 2 người mở,
đóng mới nổi.” Tôi nói: "Tất cả đều kiên cố, các anh thấy cánh cửa sắt
dầy và nặng nhưng 2 cái bản lề là chỗ yếu nhứt, các anh em vẫn chưa hiểu
?".
Tôi bắt đầu chỉ kế hoạch dự tính phá trại giam này. Khi có típ acid
nguyên chất rồi thì mới lo các phần khác như dưới đây:
• Chọn ngày giờ cho thích hợp
• Chuẩn bị một người giỏi võ
• Một chiếc xe đậu sẵn vào giờ đó tại đường gần nghĩa địa Mạc Đỉnh Chi
Bắt đầu vào kế hoạch:
• Chọn đêm Chúa nhựt, lúc 1 giờ khuya (chúng đổi
gác lúc 12 giờ khuya, chọn 1 giờ khuya là lúc tên gác buồn ngủ.)
• Đúng giờ đã định, đem típ acid nguyên chất đổ vào 2 bản lề cửa sắt,
khoảng 15 phút sau, 2 người khiên cánh cửa sắt qua một bên, người giỏi
võ chạy nhanh ra hạ tên lính gác cướp lấy súng, cách phòng giam 2 tấm
vách tường, trong lúc đó tất cả các anh em đồng chạy lên phòng trực, hạ
sát 3 tên đang ngủ và lấy súng đạn rồi chạy xuống đánh thức tất cả tù
nhân cho họ hay là Phục Quốc Qquân đến giải vây và chỉ cho tất cả chạy
ra cổng chánh, còn các anh em thì phải vượt tường rào phía nghĩa địa Mạc
Đỉnh Chi để lên xe đậu sẵn nơi điểm hẹn.
• Điểm quan trọng là phải nhanh lẹ chính xác và cố gắng làm thật im lặng
và đừng nổ súng nếu thấy không cần thiết. Vì khi đó mà bị náo động thì
rất nguy hiểm, các điểm gác khác sẽ báo động, các anh em sẽ khó thoát
thân. Các anh em phải xem lại thật kỹ để biết rõ nhiệm vụ của mỗi người
mà làm cho thật gọn. Các anh em phải nghĩtrong đầu mình là chỉ được
thành công chớ không được thất bại.
Sau khi nghe tôi trình bày sắp xếp kế hoạch, anh
em của Bằng rất vui mừng, ôm vai tôi tỏ lòng biết ơn.
Sáng sớm hôm sau, chúng tôi, những người có tên trong danh sách chuyển
trại, chúng còng tay chúng tôi lại với nhau đưa lên xe Molotova phủ mui
bố xuống, xe chạy đưa chúng tôi lên Gia Định (BCH/Tiểu khu VNCH cũ) để
tập trung tù nhân trong 14 Quận của thành phố tại đây, sau đó đoàn xe
trực chỉ ra ngoại ô, vì xe bỏ mui bố che lại hết nên chúng tôi không
biết bọn chúng chở đi đâu, khoảng 4 giờ di chuyển xe ngừng lại, chúng
tôi lần lượt xuống xe. Tôi vươn mình hít dài một hơi thở không khí trong
lành của vùng rừng núi cho thoải mái, vì suốt 6 tháng bị giam, tôi chưa
được thấy ánh sáng mặt trời và thở được không khí trong lành.
Chúng tôi đang ở trên một ngọn đồi, san sát các dãy nhà tole và có rất
đông bọn công an. Các người bị nhốt ở đây cho chúng tôi biết nơi đây là
đồi là Phượng Vĩ căn cứ của Trung Đoàn 52, thuộc Sư Đoàn 18 Bộ Binh, tại
Ngã 3 Ông Đồn, dưới chân núi Chứa Chan.

Trại
Cải Tạo Phản Động K3 do công an thành phố quản lý
Đồi Phượng Vĩ trước ngày 30-4-75 là Căn cứ Trung Đoàn 52 Sư Đoàn 18.
Tập họp điểm danh, 120 người chúng tôi được đưa
vào 2 dãy nhà lợp tole vách ván, trong tổng số 20 dãy, xung quanh các
dãy trại gồm có nhiều lớp kẽm gai bao bọc có gắn lon thiếc. Tất cả 120
người "tù phản động" này hầu hết đều liệt bại nên phải khiêng vào. Vừa
yên chỗ, một tên cán bộ quản giáo vào "sinh hoạt" cho biết đây là Trường
K3. Hôm nay các anh đến đây là ngày thứ nhứt của 3 năm học tập cải tạo,
v.v.. Nơi đây các anh được liên lạc về gia đình để thăm nuôi, mỗi lần
thăm nuôi15 phút. Các anh hãy nhớ viết thơ thế nào mà có lợi cho cách
mạng, cho gia đình và cho bản thân các anh thì các anh viết. Tên cán bộ
quản giáo tuyên truyền một lúc rồi kết thúc: Vì các anh mới nhập trại
nên ban quản giáo cho các anh được nghỉ "Bồi Dưỡng" vài hôm. Chúng tôi
đều hiểu, vì tất cả bị liệt bại nên chúng nó để cho chúng tôi hồi phục
rồi mới bắt đầu mang cày vào cổ chớ có tốt lành gì đâu.
Nghiên cứu kế hoạch vượt trại tù lần thứ 2 tại đây trong vòng 20 ngày
Một đêm ngủ thoải mái với không khí trong lành của miền rừng núi Chứa
Chan, tỉnh Long Khánh. Ngày hôm sau tôi đi vòng quanh các dãy trại, tôi
gặp anh Dũng Mặt đỏ của phòng An Ninh Đặc Tra Phủ Tổng Thống. Tôi gặp
Dũng sau giờ lao động, anh mừng rỡ chạy lại ôm tôi, tôi dặn nhỏ Dũng
đừng nói với ai vì tôi không có khai thật là Sĩ Quan Cận Vệ. Tôi hỏi
thăm Dũng tình hình nơi đây và tại sao Dũng không vượt trại ? Dũng cho
biết hiện giờ đội công tác của anh đã được bọn chúng tin tưởng nên cho
đi làm xa tận trong rừng để cưa cây gỗ. Còn trốn thì Dũng không dám vì
sợ bị bắt lại và sợ về không có chỗ an thân.
Dũng cho tôi biết: Dũng bị đưa lên đây từ ngày đầu, chúng lấy trại này
dự định chỉ giam thành phần trình diện học tập thuộc đơn vị tỉnh Biên
Hòa. Sau một thời gian chúng bố phòng chắc chắn hơn, chúng đưa thêm về
đây các tù "phản động" gồm nhiều thành phần từ cấp Tá đến binh sĩ và tù
chính trị luôn cả phụ nữ phản động. Phụ nữ thì chúng ngăn riêng khu vực,
và nguy hiểm nhứt là dọc theo triền đồi, trong các lớp kẽm gai có chôn
mìn 3 râu (loại mìn chống cá nhân có 3 ngòi nổ) hiện giờ thỉnh thoảng
gió thổi lay động cây dại mìn cũng nổ, vì vậy mà suốt 16 tháng rồi mà
không có ai dám vượt trại trốn ra!
Tôi gặp anh Thiếu Úy Hoa, Cảnh Sát Dã Chiến Biệt Đoàn 222, Võ sư Thái
Cực Đạo, huấn luyện viên của Đại Đội Đặc Nhiệm bảo vệ Phủ Tổng Thống.
Hoa cho biết anh đã tổ chức trong đội anh được gần 20 người ở đội 16 của
anh.
Anh Thượng Sĩ Truyền Tin Võ Phòng phủ Tổng Thống là anh Quốc, anh bị bắt
vì hoạt động trong lực lượng Dân Quân Phục Quốc, anh cũng đã tổ chức ở
đội 15 gần 20 người.
Anh Ba Hương, là vệ sĩ cho ông Đại Sứ Nguyễn Văn Kiểu (anh ruột của Tổng
Thống Nguyễn Văn Thiệu) anh Ba Hương thuộc toán Bảo Vệ yếu nhân của Cnh
Sát, anh cũng cho biết có tổ chức ở đội 17, gần 20 người.
Tôi được biết Đại Tá Nguyễn Văn P., Tỉnh Trưởng Long Khánh, bị bắt ngoài
mặt trận trước ngày 30-4-75 đang bị nhốt ở đây. Tôi nhờ anh Tiến, trước
năm 75, Tiến là đệ tử của Đại Tá P liên lạc với ông để biết thêm tin
tức, thì được Đ/T P cho biết, ông vẫn thường xuyên liên lạc với Lực
lượng Phục Quốc ở bên ngoài. Tôi đề nghị với Đ/T qua anh Tiến. Nếu Đ/T
thấy cần đánh phá trại giam này thì tôi xin trách nhiệm một lực lượng
xung kích khoảng 50 người giỏi võ thuật. Anh Tiến chuyển lời tôi đến
Đ/T, sau đó Tiến cho tôi biết Đ/T bảo đừng lo, vì ông đã được lực lượng
bên ngoài cho biết sẽ giải thoát trại giam trong tuần này hoặc tuần tới
? Nhưng đã qua hơn tuần mà không thấy động tịnh gì cả, Tiến hỏi lại Đ/T
thì tôi được biết là trong tuần này ? Tôi cảm thấy bất ổn vì tôi đã nghe
tin này đã xầm xì trong một vài trại, tôi nghi ngờ tin này đã bị lộ! Vì
tôi đã theo dõi trong mỗi đội tù đều có nhiều an ninh chìm của công an.
Tôi nghĩ hậu quả rất ghê gớm, nhưng tại sao chúng biết mà vẫn làm ngơ ?
Có lẽ chúng đã có chuẩn bị rồi. Trong đêm thỉnh thoảng chúng thực tập
báo động, chúng thổi còi và đánh kẻng báo hiệu, trong vòng 10 phút tất
cả 20 dãy trại đều bị phong tỏa. Mỗi dãy trại đều có 1 tiểu đội cầm
AK47, trung liên Tiệp Khắc và B40, chỉa thẳng vào trại.
*************
Tôi lo chọn trong số những người trong trại để
tính việc đào thoát, vì tôi không tin tưởng khả năng của LL phục Quốc do
Đ/T P... cho biết.
Trong số các anh em quen thân đều ngại vượt tù, chỉ mong được CS tha tội
trở về sống với gia đình, tôi chỉ chọn được một người là:
Trung Úy Kỹ sư Điện Tử Trần Quang, đặc trách Đài Radar Phú Lâm. Can đảm
chịu đựng, bị bắt do tên Hạ Sĩ Quan dưới quyền điềm chỉ, Quang vẫn cương
quyết không nhận làm lại cho CS để được tha tội. Quang cũng thường ngỏ ý
với tôi nếu có tổ chức thì xin cho anh tham gia, và anh hứa sẽ làm bất
cứ việc gì do tôi sắp đặt, vì đã nghe tôi đã có thành tích tổ chức vượt
tù.
Tôi chọn anh Trần Quang là vì thích hợp cho kế hoạch của tôi và cùng ở
chung dãy với tôi, khổ người của anh nhỏ nhắn, trầm tĩnh nhưng linh
hoạt.
Tôi quyết định theo kế hoạch trù liệu để vượt trại. Tôi và Quang mỗi
sáng thức dậy và đi "viếng lăng bác Hồ", tiếng lóng để chỉ việc giải
quyết vệ sinh. Vừa đi vừa bàn tính, tôi cho Quang biết ý định vượt rào
và dặn Quang chỉ làm theo những gì tôi cần chớ đừng hỏi tại sao và phải
ngăn cách đừng tỏ ra thân thiện để chúng không nghi ngờ, Quang đồng ý vì
Quang tin tưởng nơi thành tích của tôi.
Sau 2 tuần lễ, tôi đã thâu thập hệ thống phòng thủ và nghiên cứu thận
trọng như sau:
• 20 dãy tole, vách ván, mỗi miếng chiều dài 3
thước có đóng nẹp chận đầu
• Sau khi điểm danh, 18. giờ 30, tất cả các cửa sổ, cửa chánh đều khóa
lại
• Bên ngoài phòng, Hàng rào 4 lớp kẽm gai cao 2 thước có treo lon, nhiều
hàng rào kẽm gai dọc theo triền đồi, có khoảng 3 lớp consettina cuối
cùng dưới chân đồi
• Bãi Mìn do Trung Đoàn 52, Sư Đoàn 18 Bộ Binh VNCH thiếp lập lẩn trong
các lớp hàng rào, Trung Tá Đức Chỉ Huy Trưởng Hậu cứ của Trung Đoàn 52
hiện đang bị giam tại đây, xác nhận là đúng
• Quân số canh gác và phân công dẫn tù đi lao động là khoảng 200 tên
công an
• 4 vọng gác cao 5 thước, khoảng 2 giờ đổi phiên 24/24, ban đêm khoảng
giữa phiên đổi gác, có toán tuần tra võ trang lẻn vào nghe lén từng dãy
trại.
Hệ thống bố phòng xung quanh đồi
Trung Đoàn Bộ Đội đóng quân toàn diện từ hướng Đông qua Nam đến hướng
Tây. Nằm sâu trong rừng và đặc trách núi Chứa Chan, ước tính chiều dầy
khoảng chừng 3 cây số, bao trùm mặt tiền của trại giam. Mặt hậu từ hướng
Tây Bắc đến Bắc qua Đông, do cán bộ, thanh niên xung phong và khu kinh
tế mới, cán bộ nằm vùng lẫn lộn có thể Trung Đoàn Bộ Đội cũng đảm trách
vùng này. Nhìn chung mặt này có vẽ lỏng lẻo nhưng là tử địa vì khi thoát
ra mặt này thì chỉ có thể đi về phía rừng lá, không còn đường trốn.
Hệ thống an ninh chìm là nguy hiểm nhứt, riêng đội 18 của tôi 60 người
đã có 5 tên chìm đội lớp tù (do sự điều tra của Quang), chúng kiểm soát
từ lời nói và hành động của mỗi người, khi ăn, khi ngủ, khi đi lao động
v.v..
Bây giờ tôi chỉ còn chờ chúng đưa đi lao động ở ngoài để quan sát và tìm
hướng đi.
Sau hai tuần nghỉ dưỡng sức, các người bị liệt bại đã khá hơn. Tối Chúa
Nhật, trước giờ điểm danh, cán bộ đem xuống một danh sách biên chế chỉ
định tôi làm đội trưởng 18 K, đúng như suy đoán của tôi, vì chúng muốn
kiểm soát tôi chặt chẽ, sắp xếp đánh số chỗ ngủ, không được ngủ khác
chỗ. Tôi phải chịu trách nhiệm mọi sự xảy ra trong đội, báo cáo quân số
trước khi đi và khi về, lao động, nghỉ bệnh, công tác nhẹ, và trước khi
đi ngủ, tối đến sau khi điểm danh tôi phải điều hành sinh hoạt, phê
bình, sửa sai, đề nghị, đọc báo và văn nghệ. Mục đích của chúng là làm
cho tôi phải bận rộn trong công việc và an ninh chìm của chúng dễ theo
dõi tôi (tôi đã đề phòng việc này nên đã chọn Quang giúp tôi trong việc
đào thoát, vì chúng không để ý đến Quang). Xung quanh các dãy trại đều
đóng ván chiều dài 3 thước và đóng chận nẹp. Tôi giao cho Quang một
miếng sắt mỏng nhỏ và dẫn Quang đi ngang qua chỗ miếng ván thiếu chiều
dài, chúng thêm vào một miếng ngắn mà không có đóng chận nẹp, tôi chỉ
cho Quang và dặn mỗi đêm đi tiểu, Quang bò xuống dưới sàn ngủ, đến chỗ
đó long đinh, từ bây giờ cho đến thứ sáu phải xong nghĩa là mình có thể
đẩy ra nhẹ nhàng không bị động, sau khi xong báo cho tôi hay. Quang nhận
lời....
Ông Trưởng Ty T và tôi vẫn thường ngày lãnh cơm và ăn chung, tôi rất mến
ông là người học thức qua tư cách, rất trầm tĩnh. Trong tuần lễ vừa qua
ông có thăm nuôi, ông được người cháu ruột đem đồ ăn, gồm muối sả, café,
sữa đặc, đường và vài trăm gram thịt kho. Được gia đình báo cho biết,
trước ngày đi thăm ông, có người anh bà con của ông tập kết về cấp Trung
Tá VC. Người này coi đồ thăm nuôi đã rầy là gởi đồ thăm nuôi cho tù nhân
ăn ngon sẽ bị đưa ra Bắc vì trại này là trại phản động! Tôi nhìn thấy
ông có vẻ lo buồn, nhưng tôi vẫn chưa cho ông biết tôi đã chuẩn bị vượt
trại mà trong đó có ông.
Hôm nay là tuần lễ thứ ba, đội 18K của chúng tôi bắt đầu mang cày vào
cổ, đội chúng tôi dẫy cỏ và nhổ cây bắp khô. Đến chiều hết giờ lao động,
chúng tôi đến ao tưới rau để tắm, nước ao tù này do nước mưa đọng lại
gồm cả nước phân do ban trồng hoa màu phụ gánh từ trong trại tưới, nước
phân chảy xuống ao. Vì thế đêm đó đội chúng tôi bị ngứa gãi muốn rách
da.
Ngày thứ ba, vun vồng trồng khoai. Ngày thứ tư, khiêng đá đắp đập ngăn
dòng suối. Ngày thứ năm, tiếp tục khiêng đá đắp đập đến 11 giờ. Nghỉ
việc, tất cả tập họp điểm danh về trại ăn trưa. Khi điểm danh thiếu mất
người, tôi vội báo cáo cho tên cán bộ, tên này bình tĩnh đưa súng AK lên
bắn chỉ thiên 3 phát một, và khoảng 1 phút sau có tiếng súng AK đáp lại
khắp nơi (cũng nhờ việc này xảy ra nên tôi biết được hướng các chốt bọn
chúng đang đóng dọc theo bìa rừng từ hướng Tây qua đến hướng Bắc). Tên
cán bộ ra lịnh cho tôi dẫn tù nhân về trại, trên đường về chúng tôi đi
ngang qua các chốt của bọn công an, chúng chĩa súng vào đội chúng tôi và
chửi nhiều câu thô tục. Tôi căm hận dẫn đội mình về trại. Khoảng 1 tiếng
đồng hồ sau, chúng bắt lại được tên trốn và đem về nhốt bên dãy trại của
chúng. Tên phó thủ trưởng gọi tôi lên lấy khẩu cung cùng với vài người
trong đội. Tôi được biết tên trốn là an ninh chìm, do Quang báo lại cho
tôi, buổi chiều hôm trước tên Hậu này đã đứng nói chuyện với cán bộ ở
gần hàng rào, tôi nghĩ đây là màn dàn cảnh để cảnh cáo chúng tôi.
Sáng ngày thứ sáu, chúng tập họp tất cả 20 dãy trại. Tên phó thủ trưởng
đọc bản án và đem trình diện tên Hậu. Tiếp theo chúng cảnh cáo chúng tôi
"hãy yên tâm học tập cải tạo. Ngày mà các anh đặt chân đến đây là ngày
thứ nhứt của 3 năm. Các anh đừng mong trốn thoát nơi đây, dù một con
kiến cũng không thể rời khỏi nơi này ? Bằng chứng là suốt 16 tháng qua
chẳng ai có ý nghĩ đó. Anh Hậu vì mới đến nên chưa hiểu, nên anh sẽ lãnh
phạt 15 ngày quản chế nơi hầm tối...”.
Hôm nay đội tôi được lịnh tháo kẽm gai vòng rào tiền đồn hình tam giác
án ngữ căn cứ của Trung Đoàn 52/18. Tôi mừng thầm vì hướng đào thoát của
chúng tôi sẽ ở chỗ này. Tôi đôn đốc anh em tháo gỡ cho nhanh kịp trong
ngày thứ bảy, vì tối chúa nhựt là ngày, giờ quyết định.
Trong giờ cơm, bắt đầu tôi báo cho ông Trưởng Ty biết để chuẩn bị thoát
khỏi chỗ này, ông ngạc nhiên hỏi lại, tôi nói:
"Bác hãy chuẩn bị sẵn bộ đồ đen để mặc khi rời khỏi nơi đây, và một bộ
đồ khác bỏ vào túi nylon rồi bỏ vào bao cát để đem theo".
Tôi nói tiếp:
"Bác phải rời khỏi nơi này nếu không bác sẽ bị đưa ra Bắc".
Tôi nói tránh vì ông thường ngày ngồi ăn cơm với tôi, nếu ông không đi
ông sẽ bị liên lụy. Tôi nhìn thấy nét mặt đăm chiêu của ông, tôi hơi lo
ngại, ông hỏi:
"An tính chừng nào ?".
Tôi đáp:
"Có thể đêm mai, nếu thời tiết tốt".
Ông hỏi tiếp:
"Làm sao ra từ đây ?".
Tôi đáp:
"Sẽ chui ra dưới gầm chỗ của bác nằm đó!”
Ông giựt mình:
"Sao ? Ở dưới chỗ tôi nằm à ?"
Tôi đáp:
"Dạ phải, miếng ván dưới chỗ bác nằm tôi đã long đinh rồi! Vì chỉ có chỗ
nằm của bác là có lối ra thôi".
Tôi kể rõ kế hoạch cho ông nghe:
"Sau khi từ đây chui ra, tôi chạy nhanh ra hàng rào treo lon, tôi ngồi
xuống, Quang sẽ chạy ra và leo lên vai tôi, tôi đứng lên, Quang bước qua
phía bên kia hàng rào và đứng chờ, bác chạy ra bước lên vai tôi, tôi
đứng lên, bác bước qua vai của Quang, Quang ngồi xuống để bác xuống đất.
Và tiếp tục đến hết các hàng rào treo lon, và sau đó bác và Quang phải
theo bên tôi, đừng bước sai nguy hiểm. Vì bãi mìn dọc theo triền đồi.”
Ông lo lắng hỏi:
"An có chắc mình sẽ thoát được bãi mìn hay không ?"
Tôi đáp:
"Bác đừng lo, tôi đã tìm ra điểm chuẩn của bãi mìn rồi!”
Tôi nói để cho ông an lòng, và kể rõ hướng đi của kế hoạch.
Nghiên cứu cách thức vượt Bãi Mìn

Về phần Bãi Mìn tôi đã suy nghĩ nhiều ngày đêm,
tôi đem ra so sánh các cách gài mìn bẫy của Người Nhái chúng tôi và của
Việt Cộng, mà vẫn chưa tìm ra manh mối (vì lúc phối hợp công tác với
Người Nhái Hoa Kỳ, tôi đã từng tháo gỡ mìn bẫy của VC).
Vì chuyên viên Mìn Bẫy khi gài bãi mìn thì chỉ có đơn vị trưởng và người
gài biết sơ đồ mà thôi. Sau cùng, tôi suy ra từ 2 chữ Phòng Thủ. Tôi lập
sa bàn để định vị trí, các hàng rào cách khoảng với nhau đều đặn, và các
trụ cột thì đều đặt so le hay nói cách khác là hình chữ Z. Vậy PhòngThủ
thì khi chuyên viên đặt mìn bẫy phải đặt mìn ở chỗ an toàn cho các trụ
cột hàng rào, để khi mìn nổ không làm sụp đổ các hàng rào để còn giữ
được phần nào các kẽm gai, vì hàng rào phòng thủ mục đích là chống xâm
nhập chiến thuật biển người của VC. Theo sa bàn, tôi sẽ vượt ra theo
hình chữ chi (Z) theo hướng các trụ cột, tránh các khoảng trống mà tôi
nghĩ là có đặt mìn, và sẽ lần ra gần phòng trực cổng chánh của bọn công
an, vì trụ cột chuẩn tôi chọn gần cổng chánh, chính xác hơn mấy trụ cột
ở khoảng giữa. Tôi đã xem xét rất kỹ giữa khoảng cách 2 hàng rào, chỉ
rào kẽm gai chạy dọc, song song với các hàng rào khác và từ hàng này qua
hàng kia bằng các đường kẽm gai giăng ngang với 2 đường chéo góc, còn
phía cuối chân đồi có 3 vòng rào loại consertina, báo hiệu là đã hết bãi
mìn (vì rào loại consertina cuốn vòng tròn, không thể rào trong vùng có
mìn bẫy, vì có thể bị gió thổi rung động mà chạm ngòi nổ, vì loại mìn
chống cá nhân có 3 ngòi n rất nhạy thường gọi là mìn 3 râu). Tôi vui
mừng lẫn lo âu mặc du không dám tin chính xác 100%. Nhưng tôi đã quyết
lòng tìm cái Sống trong cái Chết, bất chấp mọi nguy hiểm.
Đêm thứ bảy 24-10-76 khoảng 8 giờ tối, trời mưa thật lớn, kéo dài đến 2
giờ sáng, tôi thầm cầu nguyện cho đêm mai cũng có mưa to thì sẽ là giờ
quyết định đào thoát của chúng tôi, vì theo kinh nghiệm của tôi, nếu hôm
nay có mưa thì ngày hôm sau cũng sẽ có mưa trễ hơn hôm nay, và sẽ mưa
liên tiếp vài hôm (lần trước tôi đào thoát trại tù Thành Ông Năm, cũng
có mưa giống như ngày hôm nay ở đây).
Ngày Chúa Nhật, từ sáng đến 5 giờ chiều, vợ con tôi mới gặp được tôi sau
6 tháng tù, tôi hàn huyên với vợ con trong 15 phút. Vợ tôi đem đồ ăn
thăm nuôi, tôi chỉ lấy café, đường, sữa đặc và mấy đòn bánh tét nhỏ, và
túi trái cây, còn các thức ăn khác tôi đưa lại để vợ tôi đem về, vì tôi
biết vợ con của tôi rất thiếu thốn, khi đi thăm nuôi chắc lại phải bán
bớt vật dụng trong nhà. Vì có tên công an dòm ngó, tôi chờ khi vợ tôi
cúi xuống gần tôi khẽ nói: "Đêm nào trời mưa thì cầu nguyện cho anh". Vợ
tôi nghe tôi nói giựt mình lo sợ, vì vợ tôi hiểu ý câu nói của tôi....
Hết giờ thăm nuôi, vợ con tôi phải rời khỏi trại thăm nuôi để đến nhà ga
Gia Rây, đón xe lửa về Sài Gòn. Còn tôi và đoàn tù được thăm nuôi trở
lại trại giam.
Cũng như thường lệ, tên cán bộ điểm danh xong, chúng lo khóa lại các cửa
cẩn thận. Khoảng 8 giờ tối, mây đen kéo đến và trận mưa bắt đầu đổ hột
lúc 9 giờ, tôi đã cho Quang biết chuẩn bị các chi tiết như ông Trưởng
Ty, dặn Quang lược café lấy nước đậm pha với sữa, đường, rồi cất vào
bình nylon nhựa, chung với các đòn bánh tét, còn café nước nhì thì đãi
các anh em không có gia đình thăm nuôi, với chút ít bánh trái. Vì sợ các
anh em uống café đậm sẽ khó ngủ, sẽ tạo khó khăn cho chúng tôi.
Tôi và Quang bình tĩnh chờ đợi, tôi chỉ lo cho ông Trưởng Ty, vì sau khi
nghe tôi thông báo vượt trại, tôi thấy ông không ngủ mà ngồi hút thuốc
suốt đêm qua. Tôi mến ông vì đã ở chung qua nhiều lần chuyển trại, và
cùng ăn cơm chung.
Mưa càng lúc càng to, 9 giờ tắt đèn, tất cả đều về chỗ nằm, nhưng vì hôm
nay có thăm nuôi, họ thức thì thầm kể chuyện gia đình cho nhau nghe
trong bóng đêm.
11 giờ đêm, tôi cố giương mắt thật to nhìn qua kẻ vách theo dõi 4 chiếc
bóng đen mặc áo mưa đi đổi vọng gác qua các lằn ánh sáng của sấm chớp.
Khoảng nửa giờ sau, 1 tiểu đội tuần tra mang vũ khí đi kiểm soát 20 dãy
trại rồi chúng trở ra phòng trực ở cổng chánh.
Giờ đào thoát đã đến
Tôi nhẹ nhàng rời khỏi chỗ nằm đến chỗ Quang bấm nhẹ. Quang bước theo
tôi trong bóng đêm dến chỗ ông Trưởng Ty nằm tôi kéo nhẹ ông xuống đất
nhưng ông không chịu xuống, ông kéo tôi sát lại và khẽ nói:
"Xung quanh họ còn thức!”.
Tôi trả lời:
"Không sao đâu bác, bác cứ chui xuống gầm sàn là xong"
Ông không chịu, bảo tôi phải chờ cho ông 1 tiếng đồng hồ nữa.
Tôi sợ động mấy người nằm gần nên đành lui về với Quang trở lại đầu dãy
trại để tiếp tục theo dõi các toán lính gác qua kẽ hở. Quang nóng lòng
thì thầm qua tai tôi: "Ông làm như vậy là chết mình rồi anh.” Tôi cố
trấn tĩnh Quang: "Không sao”. Nhưng lòng tôi như lửa đốt. Khoảng nửa giờ
sau, bên ngoài bớt mưa.
Tôi quyết định kéo nhẹ Quang đến chỗ ông. Tôi kéo hẳn ông xuống đất và
đẩy ông chui xuống gầm sàn dưới chỗ ông nằm ông ta cứ dùng dằng không
chịu chui, Quang chui vào trước đẩy nhẹ miếng ván đã long đinh và chui
ra ngoài, tôi liền đẩy ông chui ra tiếp, ông không chịu lại đẩy tôi ra,
trong lúc dằng co đó làm cho người nằm kế bên ông lên tiếng: "Không biết
cái gì kêu lụp cụp vậy ?". Liền lúc đó nghe có tiếng diêm quẹt, tôi cấp
tốc chui ra ngoài, nhìn lại không thấy ông chui theo, Quang kéo tôi thúc
giục: " Đi anh để chết đó!”. Tôi cố rướn mình lên nhìn vào trong không
thấy được vì tối. Tôi chạy nhanh theo Quang và ngồi xuống cho Quang leo
lên vai, tôi đứng lên Quang bước qua bên kia rào tuột xuống đất chờ. Tôi
dặn Quang chờ tôi một chút, vì lúc đó tôi vẫn còn nghĩ đến ông. Tôi
nhanh nhẹn chạy trở lại lỗ trống hy vọng ông đã chui ra, nhưng tôi không
thấy, tôi dán mắt vào kẽ hở, qua diêm quẹt mồi đèn, bóng ông ta đang
ngồi bó gối hút thuốc lá trên sàn nơi chỗ ông nằm. Thôi rồi! Tôi không
còn hy vọng gì để cứu ông được nữa! Tôi chạy thật nhanh trở ra hàng rào
kẽm gai, không thấy bóng của Quang, tôi vội trèo qua 4 lớp hàng rào kẽm
gai mà vẫn không thấy bóng của Quang đâu cả, tôi cúi rạp người xuống
nhìn theo đường chân trời, bỗng thấy bụi cây bên phải của tôi lay động,
tôi vội bò ngay lại đó gặp Quang, thì ra Quang không dám chờ tôi tại chỗ
vì là đường đi tuần của bọn lính gác. Tôi nắm tay Quang: "Đi theo tô.”.
Tôi dẫn Quang bò đến trụ hàng rào điểm chuẩn, gần trạm canh cổng chánh.
Tôi nhắm theo các trụ cột hàng rào và bò lách kẽm gai, thận trọng theo
hình chữ Z Quang bò theo sát tôi, độ chừng 15 phút, tôi và Quang đã
xuống tới dưới triền đồi thoát khỏi Bãi Mìn, chúng tôi khom người chạy
nhanh qua khoảng đất trống, băng qua tiền đồn hình tam giác, nơi đó là
chỗ đội của tôi vừa tháo hết kẽm gai hôm thứ bảy, nên tôi và Quang đã
vượt qua chỗ này dễ dàng, chạy thêm một đoạn thẳng vào bìa rừng, chúng
tôi lọt vào vùng gai mắc cỡ tây cao phủ đầu, chúng tôi bị gai đâm vào
mình không biết bao nhiêu mà kể, chúng tôi đang vạch gai để tìm đường
đi, bỗng chúng tôi bị lọt xuống dòng suối, tôi rất mừng vì trong dự tính
kế hoạch của tôi không biết có dòng suối này, tôi biết chắc chắn theo
con suối này sẽ xuống được nhà ga Gia Rây (vì tôi đã nhìn thấy từ trên
trại giam chiếc cầu xe lửa gần chợ Gia Rây). Tôi bảo Quang tắm cho sạch
và đồng thời di chuyển theo dòng suối, khi đến gần nhà ga Gia Rây, tôi
kéo Quang bò lên cầu để vào hướng núi Chứa Chan, nhưng khi qua ngang
đường rầy xe lửa, bỗng tôi nghĩ ra một phương pháp vội kéo Quang đứng
lên đường rầy, mỗi người một bên, tôi quàng tay qua vai Quang và Quang
làm ngược lại, bây giờ tôi và Quang đã vững trên đường rầy, chúng tôi
bắt đầu chạy trên đường rầy dễ dàng không sợ vấp ngã, chúng tôi tiếp tục
chạy khoảng 2 giờ đồng hồ nữa rồi ngồi trên đường rầy mà nghỉ mệt, vì
chúng tôi biết là đã thoát vòng kiểm soát của khu vực trại giam khá
xa....
Tôi đang nghĩ đến ông Trưởng Ty, có lẽ ông biết mình già yếu không còn
đủ sức chạy bộ, ông lo sẽ làm vướng bận chúng tôi nên đành ở lại ? Khi
còn ở quận 2, ông có tặng một bài thơ cho tôi và bảo tôi học thuộc lòng
bài thơ như sau:
Tự Thán!
Đời là chi ?
Ta là gì ?
Dòng đời vẫn chảy,
Ta cứ mãi đi!
Ta là một cội thông hiu quạnh
Đứng chọc trời xanh dưới nắng tà
Sớm chiều vi vút tiếng thông reo
Ẻo lả cành theo ngọn gió vèo
Giông tố bao lần lay lá cội
Sớm chiều vẫn vút tiếng thông reo
Tiếng thông reo, tiếng thông reo
Trải bao giông tố vẫn reo gió chiều.
Nguyễn văn T...
Vừa ngồi nghỉ mệt trên đường rầy xe lửa vừa ăn
bánh tét và thưởng thức café sữa ngon lành.... Quang quàng tay qua vai
tôi giọng cảm động:
"Anh An, anh là người cứu mạng của tôi, nên tôi xin nói thật cho anh
biết, giọng Quang trầm lại, tôi là đảng viên của Trung Hoa Quốc Dân
Đảng, tôi tên thật là Lai Minh Quang, cháu ruột của Trung Tướng Lai Minh
Kiên, hiện bác tôi đang ở Đài Loan, tôi có nhiệm vụ nằm trong Quân Đội
VNCH, và tên Trần Quang là tên giả, tôi học và tốt nghiệp Kỹ sư Điện Tử
tại Okinawa, Nhật Bản. Khi về Việt Nam, tôi phụ trách Trưởng Đài Radar
Phú Lâm, mục đích là để theo dõi bên Trung Cộng, các máy bay bên Trung
Cộng cất cánh thì ở Đài Radar Phú Lâm đều nhận biết.... Khi miền Nam sụp
đổ, tôi đã được báo trước nên đã cho vợ con rời khỏi Việt Nam hiện đang
ở Tân Gia Ba, vì tôi còn công tác nên phải ở lại Việt Nam. Bây giờ việc
trước mắt là về Sài gòn, tôi bắt liên lạc với các điểm rồi chúng mình
cùng tìm đường qua Đài Loan, khi ra được ngoại quốc rồi sẽ tính sau.”.
Chúng tôi tiếp tục chạy, khi đến nhà ga Bảo Chánh thì trời gần sáng.
Chúng tôi vào rừng chồi thay bộ đồ khô mang theo trong bao nylon bỏ
trong bao cát, nhờ lọt xuống suối nên chúng tôi đã tắm sạch đất đỏ, bây
giờ thay bộ đồ khô vào trông cũng sạch sẽ. Chúng tôi vẫn tiếp tục chạy
trên đường sắt hướng về Long Khánh cho kịp chuyến xe lửa từ Nha Trang
vào. Khi tới những nơi có người ở thì chúng tôi đi bộ, còn những chỗ
không người thì chạy tiếp. Những dân cư ở dọc theo con đường xe lửa từ
nhà ga Bảo Chánh vào đến Long Khánh chúng tôi thấy phần nhiều là người
Thượng. Khi đến nhà ga Long khánh khoảng 8 giờ sáng, con đường dài 35
cây số. Tôi lấy trong lai quần ra 5 đồng tiền VC (vì đã có kinh nghiệm
vượt tù lần trước) tôi đã dấu từ lúc mới bị bắt, tôi đưa tiền cho Quang
vào mua vé, được trạm bán vé cho biết 9 giờ xe lửa tới, tôi và Quang vào
quán café gần đó ngồi uống café và bàn chuyện về Sài Gòn mua hột giống
để đem về vùng kinh tế mới trồng trọt v.v.. Trong quán cũng có vài tên
cán bộ công an VC đang ngồi uống Café.
Tiếng còi hú từ xa của chuyến xe lửa từ Nha Trang vào Sài Gòn đã gần
đến, tôi và Quang đều cảnh giác. Chúng tôi chia nhau mỗi người một đầu
toa để tránh sự theo dõi của bọn công an. Và chúng tôi đã về đến Sài Gòn
lúc 12 giờ trưa, nhưng Quang lại bị sưng vù cả 2 chân không đi được nữa
(vì Quang chưa bao giờ chạy xa như vậy, còn đối với tôi đã được huấn
luyện qua khóa Người Nhái thì chạy bộ 35 cây số không có gì trở ngại),
tôi gọi xe xích lô đạp chở chúng tôi về Chợ Lớn, nhưng khi đi ngang qua
quán phở 79, đường võ Tánh, chúng tôi cảm thấy thèm quá nên xuống xe vào
tiệm gọi phở ăn một bữa thật ngon. Vì thấy chúng tôi nước da sạm đen ông
chủ tiệm phở hỏi: "Các anh ở đâu về mà đen quá vậy ?". Tôi trả lời là
chúng tôi từ vùng Kinh Tế mới về Sài Gòn để mua hột giống trồng trọt....
Sau đó chúng tôi gọi xe xích lô chở Quang đến một địa điểm riêng của
Quang. Chúng tôi từ giã và hẹn gặp lại tại một quán café ở ngả 7 Chợ
lớn, nhưng tôi đã đến điểm hẹn liên tiếp mấy ngày mà không gặp Quang.
Tôi nghĩ có thể điểm liên lạc của Quang không muốn tiếp xúc với tôi vì
sợ bị lộ, và tôi mất liên lạc với Quang từ đó!
Tôi đến thăm anh Nguyễn Thành Nhơn trong đêm mới trở về Sài Gòn, tôi
nhảy rào vào nhà gặp anh chị. Anh chị rất vui mừng. Tôi kể chuyện lại
cho anh chị nghe. Anh Nhơn cho tôi hay là phòng tập Thể Dục của anh đã
bị bọn công an phường tịch thâu rồi, anh bảo tôi ở lại ngủ một đêm rồi
sáng mai sẽ đi, tôi cám ơn anh chị và từ giã trước vì sáng sớm tôi đã
rời khỏi nhà của anh chị.
Tôi cố liên lạc lại với các bạn thân ngày trước, nhưng có người thấy tôi
từ xa thì đã vội vào nhà khóa cửa lánh mặt. Cũng may được một người bạn
cho mượn chiếc xe đạp, và nhờ đó tôi di chuyển khắp nơi trong thành phố,
dự định tìm vào các lực lượng kháng chiến trong rừng. Tôi gặp một đại
diện của một giáo phái (xin tạm giấu tên) sau một tháng, ông gặp lại cho
và cho hay:
"Chắc em không có phần vào trong với anh em, là vì tôi đã liên lạc và ở
trong đã gởi 3 lần liên lạc viên ra để đưa em vào nhưng đều đổ bể cả. Và
ở trong đã quyết định hủy bỏ công tác đón em rồi!”
Thêm một lần thoát nạn
Người bạn thân Mai Văn Lương (hiện đang sống tại Cali) cùng đơn vị phủ
Tổng Thống, đã giúp tôi thật nhiều trong lúc cùng cực. Anh đã giúp tôi
liên lạc với một lực lượng vùng Hậu giang, có cơ sở mua bán phân bón,
văn phòng tại đường Trần Hưng Đạo, đối diện với Tổng Nha công an thành
phố. Đêm đó tôi ở lại ngủ tại cơ sở suốt đêm trò chuyện cùng anh Hoàng
(Hoàng cấp bậc Đại Úy Sĩ Quan Đà Lạt trốn trình diện đi tù cải tạo.) cho
biết cơ sở này được quyền giữ 20 nhân viên ngủ lại đêm, anh khuyên tôi
yên tâm ở lại đây để chờ liên lạc viên từ Hậu Giang lên đón tôi.... Sáng
sớm hôm sau tôi và anh Hoàng ra ăn sáng ở tại quán café vỉa hè gần đó,
Lương cũng vừa tới. Trong quán có rất đông bọn công an đang uống café.
Tôi có linh cảm như có vic gì sắp xảy ra nên sau khi ăn sáng xong tôi
nói với Lương đưa tôi về chỗ n trú của tôi và khi nào có liên lạc viên
ở Hậu Giang lên thì đến đón tôi, vì ở đây tôi cảm thấy có nhiều nguy
hiểm. Lương đồng ý và đưa tôi về chỗ ẩn rồi ra đi. Nhưng khoảng 12 giờ
trưa, Lương trở lại kiếm tôi và cho hay tất cả cơ sở đó đã bị công an
thành phố hốt hết rồi! Thật may cho tôi, tôi chỉ thoát trong đường tơ kẽ
tóc.
Có nhiều ngày tôi lang thang đạp xe từ 6 giờ sáng khắp nơi trong thành
phố cho tới 9 giờ tối mà tôi chưa biết đêm nay phải ngủ ở đâu ? Có hôm
tôi chỉ ăn vài trái chuối qua ngày vì không tiền. Có nhiều hôm được tin
bọn công an bố ráp ở các bến xe đò Xa Cảng Miền Tây, nhà ga xe lửa là
những nơi tôi thường mướn chiếu để ngủ nên phải tìm vào nhà các bạn để
trốn.
Tôi bị bắt hụt lần thứ 2
Có lần tôi đang ẩn trong nhà một người bạn ở quận 11, Sài Gòn, khoảng 1
giờ khuya, bọn công an Phường tông cửa ập vào nhà, tên công an trưởng ra
lệnh tất cả phải đứng yên tại chỗ và cho biết là chúng được tin trong
nhà bạn tôi có làm lò nướng bánh mì lậu. Chúng bắt đầu lục soát. Trong
lúc đó tôi đang ở trong phòng ngủ của bà mẹ anh bạn vì bà về thăm quê ở
Thốt Nốt, nên anh bạn cho tôi ngủ tạm, vì tôi cũng đề phòng trường hợp
này có thể xảy ra nên tôi không nằm ngủ trên giường mà chỉ trải tấm mền
lót để nằm dưới đất, còn trên giường thì mùng, mền, nệm gối đều xếp ngay
ngắn, cửa phòng khi vào tôi đã khóa lại phía trong, khi nghe tiếng bọn
công an vào tôi liền kéo tấm mền đẩy vào gầm giường rồi chui vào trốn
trong tủ áo vì quá cấp tốc nên tôi không còn đường nào để thoát. Tiếng
tên công an trưởng hỏi bạn tôi:
"Ai ở trong phòng này ?"
Bạn tôi trả lời:
"Đây là phòng ngủ của má tôi hôm nay bà đã về quê ở Thốt Nốt thăm bà
con, không có ai ở trong đó hết"
Tên công an ra lệnh bạn tôi lấy chìa khóa mở cửa phòng để chúng khám
xét. Tôi lo sợ nghĩ rằng lần này hết phương thoát khỏi. Sau khi cửa
phòng đã mở tôi nghe tiếng chân của tên công an bước vào phòng, tôi hé
nhìn kẹt cửa tủ áo thấy tên này ngó dáo dác trên giường rồi bước đến bàn
đèn chộp lấy chiếc đồng hồ đeo tay của tôi đang để trên bàn rồi vội bước
ra và ra lệnh cho mấy tên khác lên gác lục soát để tìm tang vật về việc
làm bánh mì lậu như bột mì, bàn cân bột v.v.. Khi bọn công an lên gác
anh bạn vội mở cửa sau cho tôi tẩu thoát. Tôi thoát nạn lần này là nhờ
vào chiếc đồng hồ "Hai cửa sổ, ba người lái" (Tiếng của bộ đội CS khi
mới vào Nam) của tôi, vì tên công an lấy được nên vội bỏ đi ra ngay....
Lần thứ 3 bị bắt hụt
Trong gần dịp lễ Giáng Sinh năm 1977, được tin bọn công an sẽ bố ráp ở
các nơi công cộng, bến xe đò, nhà ga xe lửa, nên tôi đến xin bạn tôi cho
ngủ nhờ. Khoảng 12 giờ khuya có tiếng đập cửa và tiếng bọn công an kêu
gọi mở cửa phía trước lẫn phía sau. Trong lúc bạn tôi đi mở cửa, tôi
chạy lên gác lầu và mở cửa sổ leo lên nóc nhà và bò rạp mình theo bóng
tối qua 2-3 nóc nhà và nằm nép mình xuống máng xối giữa 2 mái nhà của
phòng bán thực phẩm do cán bộ VC quản lý. Chúng lục xét khắp nơi rồi lên
gác mở cửa sổ nơi tôi vừa thoát ra. Chúng nhìn qua mấy nóc nhà nhưng vì
tối quá nên chúng nó không thấy tôi nên chúng xuống lầu rồi bỏ đi.... Kể
từ đó anh bạn tôi không còn muốn thấy mặt tôi nữa vì anh đã quá sợ. Còn
về phần tôi thì cũng ngại ngùng không muốn liên lụy đến anh bạn nữa nên
tôi tránh xa khu nhà của anh!
Tôi được một anh bạn khác giới thiệu cho tôi gặp một người đại diện cho
một tổ chức kháng chiến chống Cộng ở miền Tây (xin được giữ kín), lúc đó
tôi cũng có trách nhiệm cố vấn tham mưu, đại diện cho một lực lượng tại
đô thành Sài Gòn gồm nhiều thành phần hỗn hợp, tôn giáo, quân nhân, công
chức của Việt Nam Cộng Hoà. Vì lúc này tất cả Sĩ Quan đều bị đi tù cải
tạo, còn lại thành phần quân nhân từ Hạ Sĩ Quan trở xuống. Anh bạn Người
Nhái của chúng tôi cấp bậc là Thượng Sĩ đã họp cùng một số anh em quân
nhân và vài đoàn thể Tôn Giáo khác tổ chức ra một lực lượng trong đô
thành. Khi anh gặp được tôi trốn trại lần thứ 2, anh ngỏ ý nhờ tôi giúp
trong phần điều hành nhân sự vì trong tổ chức nhân sự đã vượt quá khả
năng Hạ Sĩ Quan của anh. Tôi cũng cho anh biết là khả năng của tôi cũng
hạn hẹp. Không thể lộ mặt được vì đang lẩn trốn, tạm thời tôi xin nhận
phần Chìm đại diện cho tổ chức để tìm các tổ chức khác để kết hợp v.v..
Trong phần vụ đó tôi đã dấn thân cùng với một tổ chức khác đi về miền
Tây để liên lạc với các cánh quân ly khai vùng Sóc Trăng và Cờ Đỏ, và
sau buổi họp tại khách sạn ở Cần Thơ, tôi đã bí mật mang về Sài Gòn
những số nhà của các địa điểm cần được phối kiểm để tiếp tế khi cần.
Nhưng chỉ vài tuần sau thì tổ chức tôi đang hơp tác bị bể. Chúng tôi
đành phải nằm yên.
Nhờ người bạn thân giới thiệu tôi với một đại diện một cánh quân ở Miền
Tây, tổ chức của anh đang bị động ở miền Tây nên anh lánh về Sài Gòn.
Tôi và anh bàn thảo trong tinh thần cởi mở thân mật vì chúng tôi đều
đang đi tìm những đường dây tiếp tế thật sự từ ngoại quốc về và hứa sẽ
giúp đỡ cho nhau khi cần với khả năng mà mình có.
Sắp đến Tết Nguyên Đán ở đô thành lại bị bố ráp, tôi đến gặp anh Trần
(xin tạm gọi là anh Trần... ) nhờ anh giúp đưa tôi tạm lánh nạn về miền
Tây ở vùng Cái Răng. Anh giới thiệu tôi là người Tàu lai ở Chợ Lớn đi
tìm việc làm với ông chủ vườn cây ăn trái và nhờ ông giúp đỡ. Ông chủ
vườn đưa tôi vào vườn cây của ông cách mặt lộ khoảng 3 cây số. Vì là
vùng đất Bưng (đất sét đen) nên chỉ đi bằng chân không, vì bùn sình lún
sâu không thể mang giày dép được. Tôi ở chung với vợ chồng người cháu.
Tôi tạm gọi là anh Ba, anh là HSQ Truyền Tin, anh tự làm cho mù mắt để
được miễn dịch, sau khi VC chiếm miền Nam, vợ chồng anh bần khổ nên về
đây ở tạm. Anh cũng thường tự trách mình mỗi khi tâm sự với tôi là ngày
trước anh đã hèn nhát, đã tự hủy hoại thân thể để cầu an. Bây giờ VC vào
rồi anh mới thấy hối hận. Anh cũng hỏi thăm dò tôi thuộc thành phần nào
nhưng tôi giấu nhẹm chỉ cho anh biết tôi là người Tàu lai tên là Hứa Gia
Ân.
Vườn cây ăn trái có khoảng 300 gốc, ban ngày tôi tưới nước và lặn xuống
dòng rạch để móc sình non lên vun gốc. Ban đêm khi chiều xuống, tôi và
anh Ba chèo xuồng đi giăng câu ở những nơi hoang vắng để tránh tai mắt
bọn công an vùng. Có nhiều đêm mưa tầm tã chúng tôi quần áo ướt sũng co
ro trên xuồng, hoặc tìm vào các ngôi miễu hoang mà trú ẩn cho qua cơn
mưa, gần sáng chúng tôi mới chèo xuồng về. Vợ anh Ba, chị đem cá câu
được đem ra chợ Cái Răng bán và mua lại gạo muối về dùng. Thỉnh thoảng
một vài tuần anh Trần vào thăm tôi và tiếp tế chút ít tiền đưa cho anh
chị Ba lo giúp phần ăn uống cho tôi vì ông chủ vườn cũng không có dư dả
nên vợ chồng anh Ba và tôi điều phải tự túc.
Thoát nạn lần thứ 4
Tôi ở đây gần 3 tuần, tôi đã gặp NN Nguyễn Văn Cao chung khóa 2 NN với
tôi, trong lúc tôi ra mặt lộ để hớt tóc. Cao gặp tôi vui mừng, tôi vội
kéo Cao ra ngoài để tránh mọi người để ý và cho anh Cao biết là tôi đang
lẩn trốn vì đã vượt tù cải tạo hiện giờ thân phận tôi là người Tàu lai ở
Chợ Lớn thất nghiệp nên xuống đây làm vườn để sống.... Cao khẽ nói với
tôi:
"Chú Ba T. (ông chủ vườn) ngày xưa đã tiếp tế VC. Nếu anh ở nhà ông thì
tạm là an toàn vì công an phường khóm đều quen biết ông.”
Nhưng vài hôm sau ông chủ vườn cho tôi hay là công an nói giấy tờ của
tôi đã gần hết hạn và muốn gặp mặt tôi vào ngày mai. Tôi cảm thấy nguy
hiểm nên khoảng 3 giờ sáng sớm hôm sau tôi lén rời khỏi Cái Răng đi xe
đò trở về Sài Gòn....
Sau đó có lúc tôi ở Cai Lậy, Cần Thơ, Cái Răng, Bò Ót, Ô Môn, Thất Sơn,
Châu Đốc.... Tôi cố tìm vào các nơi bưng biền, nhưng khi biết ra thì
các anh em chỉ có “ngọn mà không có gốc”. Tôi đành phải vượt biên, sau
khi đã bị VC bắt hụt mấy lần. Cuối cùng tôi được một người bạn thân giúp
cho tôi đem vợ và đứa con trai vừa hơn 3 tuổi.
NGÀY VƯỢT BIÊN
Ngày lễ Thanh Minh là ngày vượt biên! Chúng tôi xuống ghe tại bến Ninh
Kiều, Cần Thơ rồi chạy ra cửa biển Tranh Đề, được chiếc ghe đánh cá Kiên
Giang mang số KG-0660 đón lên ghe và khởi hành ra cửa biển, nhưng khi
vừa ra tới cửa biển chiếc ghe lại leo lên cồn cát, tất cả trên ghe là 59
người kể cả lớn nhỏ, đều nhốn nháo lên, vì trên ghe có người đã vượt
biên 5 lần 7 lượt mà vẫn không thoát, lần này ghe lại mắc cạn, nên mọi
người đều lo sợ.
Tôi đứng ra kêu gọi tất cả hãy bình tĩnh, và tổ chức lại, chia ra nhiều
tổ, mỗi tổ 2 người, bắt đầu xuống nước tính từ ghe chia ra tổ nào đi
theo hướng nấy và khi nào tìm được chỗ nước sâu tới ngực thì kêu lên.
Tất cả đều làm theo lời của tôi, một lúc sau ở hướng bên trái kêu lên có
chỗ sâu, tất cả đều cùng xúm lại đẩy ghe về hướng đó, ghe lại khởi hành,
nhưng ghe chạy chỉ được chừng vài trăm thước thì máy bơm nước từ trong
ra ngoài bị bể. Tôi liền tổ chức chia thành 3 toán thay phiên nhau tát
nước trong ghe ra ngoài. Tôi chọn 3 người lớn tuổi làm trưởng toán có
trách nhiệm sắp đặt thay phiên nhau.
Tôi nghi ngờ anh tài công này, tôi lên phòng lái hỏi anh tài công: "Anh
chở theo bao nhiêu lít dầu ?"
Tài công trả lời: "400 lít".
Tôi hỏi: "Ghe này chạy bao nhiêu cây số giờ ?"
Tài công: "không biết !”
Tôi hỏi: "Bây giờ anh đang chạy đi đâu ?"
Tài công: "Cứ chạy rồi sáng vô Hòn Khoai tính lại"
Tôi biết tên tài công này có mưu đồ, tôi tức giận thét lớn lên:
"Anh rời khỏi phòng lái ngay, kể từ bây giờ tôi lái chiếc ghe này!”
Tôi kéo cổ tên tài công ra khỏi phòng lái và dặn các anh trưởng toán coi
chừng tên tài công, còn tôi vào phòng lái, lấy hướng 180 độ trên la bàn
là hướng giữa Côn Sơn và Hòn Khoai mà lái đi suốt đêm cho đến 7 giờ
sáng. Tôi nhìn về hướng bên trái ghe thấy dạng núi Côn Sơn, biết là đúng
hướng rồi, tôi lái thêm ba giờ nữa để ghe ra tới hải phận quốc tế. Tôi
được các người trên ghe cho biết tên tài công không có ý định vượt biên,
nên vợ con anh ta để lại Việt Nam. Còn ghe thì không có tu bổ hay sửa
chữa chi hết, nên nước đã vào theo kẽ hở tróc chai rồi lại hư luôn máy
bơm nước, còn máy cũng hư, chỉ còn máy tiến mà không có máy lùi. Trên
ghe đi biển vượt biên mà không có hải đồ, chỉ vỏn vẹn một la bàn trong
phòng lái mà thôi. Tôi đem tấm bản đồ giới thiệu đường hàng không của Mã
Lai, tỷ lệ 1/40 triệu, nhìn vào bản đồ thấy nước Việt Nam bằng đầu ngón
tay út, dùng bản đồ đó và địa bàn Bộ Binh (tôi đem theo tấm bản đồ và
địa bàn này trong mình là dự tính vượt biên bằng đường bộ.) tôi đo và
xoay theo hướng độ, tôi kẻ đường thẳng đến thị trấn Kotabaru của Mã Lai,
giáp biên giới của Thái Lan, là hướng 240 độ.
Tôi lái ghe đổi hướng trực chỉ. Chúng tôi đã đi 2 đêm 2 ngày, mỗi ngày
tôi đều thay dầu vào lúc 4 giờ chiều, rồi lại đi tiếp. Bỗng thấy có
chiếc tàu từ xa chạy cùng chiều, chiếc tàu chạy tốc độ rất nhanh khi đến
gần chúng tôi mới biết là tàu đánh cá Thái Lan. Chiếc tàu vượt qua ghe
rồi ngừng lại, ra dấu cho chúng tôi cập vào, vì ghe không có máy lùi nên
kêu tất cả thanh niên khoảng gần 30 người đứng dàn hàng trên ghe để khi
cập vào thì đỡ lại, và tôi lái góc 90 độ mũi ghe chỉa thẳng vào hông tàu
của Thái Lan dự tính khi đến gần sẽ lấy mũi lại song song với tàu, nhưng
tàu Thái Lan hoảng sợ vội vọt mạnh về phía trước, làm cho một tên Thái
rớt xuống biển. Tôi vòng ghe lại vớt tên này lên, tên thủy thủ lên ghe
chúng tôi mà có vẻ sợ sệt, chiếc tàu Thái Lan vòng lại và ra dấu thả tên
Thái đó và ra dấu sẽ tiếp tế thực phẩm cho chúng tôi. Tôi ra dấu cho tên
Thái Lan nhảy xuống lội về tàu, chúng tôi được tàu Thái câu bỏ xuống 2
bao gạo và 2 thùng bằng nylon chứa nước ngọt (vì khi ghe bị mắc cạn
chúng tôi đã đổ bớt nước ngọt đem theo để cho ghe được nhẹ bớt nên thiếu
nước ngọt). Sau đó tàu Thái Lan trở hướng chạy ngược lại, còn chúng tôi
tip tục đi. Bà con trên ghe bàn tán, có lẽ tàu Thái Lan đó là hải tặc,
nhng khi thấy trên ghe đông thanh niên đứng dàn hàng nên chúng nó sợ
chúng tôi cướp lại tàu của chúng nó nên chúng đành bỏ đi ?
Đến chiều ngày hôm đó tôi họp với 3 anh trưởng toán lại và cho các anh
biết là tình trạng chiếc ghe không còn an toàn nữa, vì chất chai trét đã
bị tróc nước vô nhiều, hy vọng có tàu lớn đi ngang cứu giúp. Tất cả đều
lo lắng. Khoảng 6 giờ chiều, bỗng thấy ánh sáng chớp lên thật xa, tôi
xem kỹ biết là Hải Tiêu, tôi báo cho tất cả trên ghe hay tin đều vui
mừng, tôi lái theo hướng Hải Tiêu cho tới 12 giờ đêm mới vào được tới
cửa sông, khi tôi ủi ghe lên bờ vừa chạm cồn cát, chiếc ghe rã ra và
chìm xuống nước, 59 người lớn và trẻ em trên ghe đều bồng bế nhau nhảy
xuống biển, nước sâu tới cổ, và tất cả mọi người đều an toàn đến bến bờ
đất nước Mã Lai.

Chiếc ghe đánh cá Kiên Giang mang số KG-0660 đã
làm tròn trách nhiệm của mình đưa người tới bến bờ TỰ DO và đã trở về
với lòng Đại Dương ngàn đời! Còn Chúng ta... những đứa con vì 2 chữ TỰ
DO đã bỏ nước ra đi đang lang thang nơi đất lạ khắp năm châu. Biết đến
bao giờ những đứa con này mang 2 chữ TỰ DO về cho đất mẹ ?!