Bắt đầu mỗi ngày đúng 8 giờ sáng. Tất
cả võ sinh gần 100 người tập họp tại sân trại tập luyện. Tiếng
la hét trong lúc tập võ làm náo động các trẻ em thanh niên và
dân làng đến xem ngoài vòng rào trại, họ xem chúng tôi tập võ tỏ
vẻ rất ngưỡng mộ.
Vài hôm sau, một nhân viên của viện Dưỡng Lão qua tìm Ban Điều
Hành chúng tôi và tặng cho một con Kỳ Đà anh vừa bắt được trên
ngọn cây dừa, anh ta thân thiện nói với chúng tôi là anh rất
thích về võ thuật v.v.. Hôm đó chúng tôi được một bữa Càri nấu
thịt con Kỳ Đà thật ngon.… Và cũng từ đó xem như chúng tôi đã có
kết quả là thâu phục được phần nào thiện cảm của người dân làng.
Ban điều hành chúng tôi rất vui mừng vì đã tạm yên ổn….
Sẵn dịp tôi xin kể lại cách hái dừa của người Mã Lai.

Họ không leo lên cây dừa để hái trái như Việt Nam
mà lại dùng con khỉ có cột sợi dây ngang eo bụng leo lên cây
dừa, con khỉ theo sự huấn luyện của chủ, người chủ giựt dây bên
trái hoặc bên phải mà di chuyển theo ý muốn của chủ và hái những
quày dừa nào mà chủ nó muốn, khi đúng quày dừa cần hái, con khỉ
hai chân sau đeo vào tào dừa và hai bàn tay nó ôm lấy trái dừa
mà quay tròn thật nhanh cho đến khi trái dừa đứt cuống rớt xuống
đất trung bình 1 quày dừa khoảng 15 trái thì khỉ hái chỉ trong
vòng 8 đến 10 phút mà thôi.oOo
Vì tạm trú tại nhà kho nhỏ mà số người tỵ nạn cập bờ ngày càng
đông nên các gia đình anh Mãnh, anh Trung, và anh Châu đều cất
lều vải riêng cho gia đình ở với tiền riêng của mình. Các anh rủ
gia đình tôi cùng ra ở ngoài lều riêng nhưng tôi từ chối vì
“Chính kỷ dĩ cách vật” tự nghĩ mình có trách nhiệm trong ban
điều hành nên muốn cộng khổ với tất cả mọi người thì mới dễ điều
hành. (Gia đình tôi vẫn ở trong nhà kho cũ cho đến khi được đi
định cư).
Trong thời gian mới thành lập trại, ngoài phần cứu trợ của Cao
Ủy LHQ, chúng tôi còn được thêm sự trợ giúp thực phẩm, quần áo
cũ, và thuốc men, v.v. bởi các hội đoàn cứu trợ tại địa phương.
Chúng tôi tiếp đón với những màn văn nghệ “bỏ túi” để chào mừng
các phái đoàn thiện nguyện.

Khoảng 2 tháng sau, 10 dãy trại đã được xây xong. Một
buổi đón tiếp phái đoàn ông Cao Ủy Liên Hiệp Quốc đến viếng
thăm. Sau khi được được Cảnh Sát Mã báo tin, ban điều hành trại
họp lại để lo tổ chức, tôi trách nhiệm sắp xếp an ninh với một
số thanh niên trong trại. Bà con cùng họp sức trang hoàng hội
trường, mua vải để may quốc kỳ VNCH và mua lá quốc kỳ Mã Lai để
treo, còn chung quanh 10 dãy trại được dọn dẹp thật sạch sẽ.
Buổi lễ khánh thành 10 dãy trại mới xây cất xong và lễ
chào cờ đầu tiên nơi trại tỵ nạn Kotabharu thật xúc động.
Sáng sớm hôm đó tất cả đồng hương đều thức dậy, mọi người đều lo
làm công việc đã được phân công rồi tập họp trong hội trường,
lúc đó có khoảng 300 người chờ đón phái đoàn.
Đúng 9 giờ sáng, phái đoàn Cao ủy LHQ được đoàn xe Cảnh Sát Mã
hộ tống đến trại, BĐH chúng tôi cùng với 8 thanh niên ra đón
tiếp phái đoàn và đưa đi vòng quanh các trại rồi đưa vào hội
trường, tất cả theo hướng dẫn của tôi đứng lên chào đón phái
đoàn với tiếng vỗ tay chào mừng, ông Cao ủy và phái đoàn cũng
vẫy tay chào.
Tiếp đó phó trại hô nghiêm:..Lễ chào quốc kỳ. Này công dân ơi…
Đứng lên đáp lời sông núi….
….Tiếng ca của mấy trăm người tỵ nạn vang lên như vượt cả không
gian. Dư âm như bay theo mây gió bạt ngàn, như đưa chúng tôi về
vùng trời quê hương xa thẳm. Tiếng ca như ngấm sâu vào tận đáy
lòng người mất nước phải ly hương tìm tự do… Cả hội trường chúng
tôi đều xúc động, nức nỡ, ngẹn ngào.
Đã trên 3 năm qua trên đất nước miền Nam bị bọn cộng sản cưỡng
chiếm, lần đầu tiên chúng tôi được hát quốc ca mà đã tưởng chừng
như không bao giờ còn được nghe thấy lại nữa.

Lễ chào Quốc Kỳ tại trại Tỵ nạn.
Nhưng việc chào cờ bất ngờ này ngoài dự
tính của Cảnh Sát Trưởng Đại Úy Fredly và phái đoàn Cao Ủy, tất
cả cũng đành phải đứng nghiêm, trong lúc đó ông Fredly kề tai
nói nhỏ với anh Mãnh trưởng trại: Trời ơi! Tụi bây đã nhập cảnh
bất hợp pháp mà lại bắt tụi tao chào cờ tụi bây nữa? Anh Mãnh
lúng túng cười vã lã: Xin lỗi ông… vì chúng tôi không biết!
Sau đó ông Cao Ủy LHQ ngỏ lời chào và chúc mừng mọi người đã đến
được bến bờ tự do, sau khi trả lời những thắc mắc với người tỵ
nạn và hứa sẽ cố gắng giúp cho người tỵ nạn sớm được định cư ở
nước thứ 3….
Qua ngày sau, Cảnh Sát Trưởng Fredly vào trại họp với BĐH chúng
tôi và ông ngỏ lời khen ngợi phần an ninh trật tự đã tổ chức
thật chặt chẽ trong buổi lễ, ông báo cho chúng tôi tin vui, ông
cho biết Ban cảnh sát của ông cũng rất hài lòng BĐH đã tổ chức
an ninh trật tự và suốt mấy tháng qua không bị xáo trộn, và giữ
được hòa khí với dân làng nên Ban cảnh sát của ông đồng ý cho mở
cửa trại tỵ nạn cho chúng tôi được tự do ra trại đi ra thị trấn
Kotabharu cách trại khoảng 3 cây số đi và về bằng xe Lam 3 bánh
hoặc Taxi để ăn uống hoặc mua sắm từ 8 giờ sáng đến 8 giờ tối
mới đóng cửa trại.
BĐH họp trại thông báo tin vui và cũng nhắc nhở bà con cố gắng
giữ gìn trật tự để được sự tự do đi lại này.
Tôi và vợ con cũng đi ra thành phố và tìm vào tiệm kim hoàn bán
chiếc nhẫn cưới của chúng tôi để chi xài trong lúc ngặt nghèo
tại đây. Sau đó chúng tôi đi du ngoạn vòng quanh thành phố
Kotabharu và thưởng thức rất nhiều loại trái cây tươi như ở Việt
Nam, nhưng nơi đây có lẽ nhờ vào khí hậu và đất tốt như Thái Lan
nên trái cây rất ngọt và không bị sâu bọ.

Một câu chuyện thương tâm của
người Vượt biển.
…..Sau khi chuyến ghe vượt biên của chúng tôi thành công trong
vòng 2 ngày 2 đêm rưỡi đã đến được Mã Lai, chúng tôi gởi điện
tín về Việt Nam thông báo cho ban tổ chức vượt biên hay, để
chuẩn bị chuyến vượt biên tiếp theo. Và chuyến thứ 2 này có vợ
con anh Trần Văn Trung trong ban điều hành trại tỵ nạn, và đây
cũng chỉ là một trong muôn ngàn câu chuyện thương tâm của người
vượt biển….
Sơ lược về anh Trần Văn Trung.
Thuở thiếu thời anh Trung rời khỏi Quảng Bình miền Trung vào
năm 1954 vì hiệp định chia đôi hai miền, anh vào thành phố Sài
Gòn tìm việc làm, anh theo học ngành sửa xe hơi. Và hoàn cảnh đã
đưa đẩy anh sau đó gặp được vận may.... Anh Trung đã trúng thầu
vật liệu phế thải của quân đội đồng minh Hoa Kỳ tham chiến tại
Việt Nam.
Anh Trung như đã mang “đôi hia bước đi bảy dặm” giống như chuyện
thần thoại ngày xưa. Tiền vào như nước. Sau đó anh lập gia đình,
anh chị tiếp tục phát triển ngành thầu. Phát triển đến đỗi anh
chị không có thời giờ kiểm tiền, phải nhờ ngân hàng biệt phái
kế toán viên đến nhà hàng tuần để kiểm tiền và làm sổ sách.
Đến ngày 30-4-1975. Sài Gòn sụp đổ, cộng sản chiếm trọn miền
Nam.
Anh chị đã có 4 đứa con, 3 Trai và 1 gái, gia đình anh không kịp
thoát ra ngoại quốc trong những ngày chính biến. Sau đó biết
không thể sống với chế độ cộng sản nên đành phải tìm đường vượt
biên. Với tiền bạc sẵn có anh chị đã liên lạc được nhiều tổ chức
vượt biên nhưng lại bị thất bại 9 – 10 lần với nhiều lý do như
bị lường gạt bởi chủ tàu, hoặc tổ chức vượt biên bị bể hoặc bị
bắt trở lại khi ra cửa biển, v.v.. Nhưng anh chị vẫn kiên nhẫn
tiếp tục, với kinh nghiệm nhiều lần thất bại, anh chị chia ra
làm 2 toán, anh Trung đi chung với 2 đứa con nhỏ, còn chị Trung
thì đi với 2 đứa con lớn. Đề phòng nếu toán của anh Trung vượt
biên lỡ thất bại bị bắt thì chị Trung còn ở ngoài lo chạy hối lộ
để cứu ra, và ngược lại nếu toán chị Trung bị bắt thì anh Trung
lo.
Cũng vì vậy trong chuyến vượt biên này, chỉ có anh Trung và 2
đứa con đi chung với chúng tôi đã đến được bến bờ Mã Lai an
toàn.
Còn chị Trung đang ở lại Việt Nam để lo hối lộ bọn Công An VC để
cứu 2 đứa con ra vì bị bắt trong chuyến vượt biên vừa qua.
Khoảng 1 tháng sau anh Trung nhận được tin chuyến vượt biên thứ
2 đã ra khơi. Anh vui mừng vì sẽ đoàn tụ lại gia đình nhưng cũng
không tránh khỏi âu lo.
Hôm nay đã qua mười mấy ngày rồi mà anh Trung vẫn chưa có tin
tức gì về chuyến vượt biên thứ 2, anh Trung càng lo lắng hơn cho
chị và 2 đứa con còn đang lênh đênh trên biển cả đã qua nhiều
ngày….
Với khả năng và kinh nghiệm ngoại giao trong thương trường, anh
Trung đã tạo được thân thiện với Cảnh Sát Trưởng Đại Úy Fredly,
anh Trung nhờ ông ta giúp dùm xem coi có tên chị và 2 con trong
danh sách các trại tỵ nạn khác tại Mã Lai và các ghe mới đến.
Nhưng trời đã không phụ lòng anh, vào khoảng 10 giờ sáng, ngày
thứ 16. Cảnh Sát Trưởng Fredly vào trại tìm anh Trung, sau đó
mọi người thấy anh Trung vui mừng chạy vào trại vừa la lớn “Vợ
con tôi đến rồi, vợ con tôi đến rồi…”anh vội vã kéo đứa con
trai là “Triết cam tích” (Vì Triết có cái bụng ỏng) và cô “Công
chúa Mã Lai”(Vì bé Tuyền có nước da ngâm đen) rồi cùng ông
Fredly lên xe chạy đi. Chúng tôi cũng hồi hộp chờ đợi.
Đến trưa xe ông Fredly chở về trại gồm có anh chị Trung và 4 đứa
con, cùng 3 chị em của ca sĩ Hải Lý.
Tất cả bà con trong trại cùng đến chia vui và chào đón người mới
đến.
Vài hôm sau chị Trung đã tỉnh táo lại phần nào, chị kể lại cho
chúng tôi nghe chuyến ghe vượt biên 15 ngày của chị đầy tai
biến.
Chuyến thứ 2 trên ghe gồm có 85 người, và ban tổ chức vượt biên
cũng đưa người xuống 2 chiếc ghe tại bến Ninh Kiều Cần Thơ rồi
chạy ra gần đến cửa Tranh Đề, nơi đây có chiếc ghe đánh cá chờ
sẵn đón người của 2 chiếc ghe lên rồi khởi hành ra cửa biển, ghe
lại bị vướng lên cồn cát trong suốt 3 giờ đồng hồ và nhờ thủy
triều lên mới thoát được và chạy ra khơi.
Sáng ngày hôm sau bà con rất mừng vì đã ra xa bờ, nhưng nỗi mừng
vui chưa được bao lâu vì bà con trên ghe thấy sao bóng mặt trời
lúc thì ở phía trước ghe, lúc thì lại thấy bóng mặt trời phía
sau lái?
Bà con hỏi tài công thì anh ta chối quanh là đang đi đúng hướng.
Nhưng một lúc sau lại thấy chiếc ghe đang chạy vòng vòng nữa?
Mấy người đàn ông nóng lòng vặn hỏi tài công. Đến lúc đó tên này
mới thú thật anh ta không phải là tài công, nhưng vì anh muốn
được vượt biên nên nhận đại để được đi nên anh ta không biết
phương hướng chi cả. Anh ta quì lạy nhận tội xin bà con muốn xử
tội hay giết chết thì anh cũng đành chịu….
Trời! Trời! Tiếng kêu trời thảng thốt lẫn tuyệt vọng của tất cả
mọi người trên ghe, dư âm như tan dần trên mặt trùng dương bao
la….
Và ghe vẫn tiếp tục chạy. Bà con bỗng một lúc sau thấy từ xa một
chiếc ghe đang chạy đến, trên cột cờ có treo cờ đỏ sao vàng tất
cả hoảng hốt la lên “Ghe quốc doanh, ghe quốc doanh….” Chiếc ghe
vượt biên vội đổi hướng 180 độ chạy đi, ghe quốc doanh rượt theo
và bắn xối xả vào ghe vượt biên, nước biển văng lên ướt cả sàn
ghe, ghe vượt biên mở máy hết tốc lực chạy ra khơi, ghe quốc
doanh rượt theo không kịp nên quay trở lại. Trên ghe vượt biên
may mắn không có ai bị thương.
…Thì ra chiếc ghe đang chạy quanh quẩn trong vịnh Thái Lan.
Rồi chiếc ghe vẫn tiếp tục chạy mãi mà chẳng ai trên ghe biết
mình đang ở đâu? Vài đàn ông thanh niên trên ghe cùng họp nhau
để tìm phương hướng nhưng rồi cũng đành buông trôi vì chẳng ai
hiểu biết gì về hải trình trên biển.
Bắt đầu tai họa xảy đến.
Ngày lại qua ngày chiếc ghe đã hết dầu không còn chạy được nữa,
thức ăn nước uống cũng không còn nhiều nên phải phân chia để cầm
hơi. Chiếc ghe như chiếc lá trôi dạt giữa đại dương mênh mông.
Một hôm bà con thấy một chiếc tàu đánh cá mang cờ Thái Lan chạy
đến, tất cả đều hoảng sợ nhưng không biết làm sao được. Tàu Thái
chạy đến cập vào ghe, một toán hải tặc mặt mày hung dữ tay dao
tay búa hùng hổ nhảy qua ghe, chúng bắt tất cả dồn vào một chỗ
và lục xét vơ vét tiền bạc và nữ trang.
Trước khi chúng bỏ đi chúng lại gọi tàu hải tặc khác đến, và hết
chiếc này rồi chúng nó gọi chiếc khác, tiếp tục vơ vét cướp tất
cả những gì mà chúng có thể lấy đi, cho đến chiếc tàu thứ 11 thì
trên ghe không còn gì để lấy, bọn hải tặc Thái tức giận chúng
đục cả be ghe và các ống dẫn nước của máy ghe ra để tìm vàng vì
nghi thuyền nhân giấu trong đó.
Chúng không tìm được gì nên bọn hải tặc quay ra lựa chọn một số
phụ nữ định bắt qua tàu của chúng, trong lúc dằng co la khóc đó
bỗng một tên hải tặc trợt chân rớt xuống biển, bọn hải tặc vội
buông tất cả phụ nữ ra và lo vớt tên hải tặc lên. Tên đầu xỏ hải
tặc la lên một tràng tiếng Thái chúng có vẻ hoảng sợ vội vã bỏ
lại tất cả phụ nữ rồi lên tàu chạy đi….
Bây giờ chiếc ghe trôi xuôi theo sóng gió mặc tình đưa đẩy. Chị
Trung và cùng 2 con ngồi dựa vào nhau, chị cảm thấy niềm hy vọng
gặp lại chồng con càng mong manh càng xa vời….
Bỗng một buổi sáng nghe tiếng mọi người vui mừng reo lên vì
chiếc ghe đã trôi dạt vào gần bờ cách vài trăm thước. Trong lúc
đó chị thấy có vài người dân trong làng họ xúm nhau lội ra đẩy
phụ chiếc ghe vào bờ. Thì ra đây là làng đánh cá Thái Lan gần
biên giới Mã Lai, dân làng nơi đây rất hiền lành họ cùng nhau lo
nấu nướng rồi đem đến cho bà con tỵ nạn…. Nơi đây chị Trung thấy
có mặt của những tên hải tặc nhưng không ai dám mở miệng....
Chị Trung gặp một vị cao niên trong làng biết chút ít tiếng Việt
vì ông là người Thái lai Việt nhiều đời, sau vài câu chuyện trao
đổi với ông, chị Trung đem việc phụ nữ bị hải tặc bắt đi nhưng
tại sao chúng lại bỏ lại tất cả phụ nữ khi một tên bị rơi xuống
biển? Ông lão cho biết dân làng đánh cá nơi đây rất tôn sùng đạo
Phật, và những người sống bằng nghề đánh cá đi biển mà bị rớt
xuống biển là điềm rất xui xẻo, vì vậy khi chúng cướp của là đã
phạm tội lỗi với Trời Phật. Chúng rất sợ sẽ bị quả báo nên vội
vàng bỏ đi.
(Chị Trung kể đến đây tôi mới biết
tại sao! Vì việc này cũng đã xảy ra trên hải trình do tôi lái,
khi một thủy thủ của chúng bị rớt xuống biển và được ghe chúng
tôi vớt lên, rồi chúng cũng vội bỏ đi. ”Trong bài hai lần vượt
tù cải tạo”.)
Chị nói tiếp: Chánh quyền địa phương làng đánh cá giúp chúng
tôi sửa chữa chiếc ghe xong, cho thêm thức ăn nước uống rồi ra
lệnh ghe chúng tôi phải rời bờ với những tràng súng bắn chỉ
thiên xua đuổi, mặc cho những lời van xin cho ở lại đất liền vì
tất cả mọi người đều kinh sợ biển khơi. Rồi chiếc ghe chúng tôi
cũng đành phải rời bờ.
Theo lời chỉ dẫn của dân làng đánh cá Thái Lan, chiếc ghe chạy
cập theo gần bờ lần về hướng Nam, khi qua ranh giới Thái-Mã thì
lại gặp tàu tuần duyên của Mã Lai, ghe chúng tôi lại bị xua đuổi
chạy ra khỏi hải phận Mã Lai, cũng với những tràng súng bắn chỉ
thiên.
Chiếc ghe khốn nạn gặp nhiều bất hạnh của chúng tôi lại phải lê
thân tàn trôi nổi trên đại dương. Khi ghe chúng tôi đi ngang qua
các ghe tàu đánh cá của Mã Lai, chúng tôi thấy họ kêu và ra dấu
cho chúng tôi, lúc đầu chúng tôi không hiểu ý nhưng sau đó chúng
tôi biết ý họ chỉ cho chúng tôi phải đục ghe cho chìm xuống biển
rồi lội vào bờ.
Trên ghe mọi người cùng bàn thảo cuối cùng đồng ý đục ghe cho
chìm, mặc cho lời van xin của số người không biết lội vì
cách xa bờ khoảng 400 – 500 thước!
Khi ghe bị đục chìm lần, một số người biết lội họ lội vào
bờ. Còn lại hơn một phần ba không biết lội chen chúc nhau la
khóc, bám víu vào chiếc ghe đang chìm chỉ còn phân nửa phần mũi
ghe còn nổi trên mặt nước....
Trong lúc tận cùng tuyệt vọng…. Thì từ xa chiếc tàu tuần duyên
của Mã Lai theo dõi qua ống dòm họ đã chờ đợi cho đến khi thấy
ghe đã bị chìm nên mới vội chạy đến và cho Ca nô cứu vớt tất
cả nạn nhân rồi đưa vào bờ. Chị sững sờ như có phép lạ của
đấng thiêng liêng vô hình đã dang tay cứu vớt….
Chấm dứt câu chuyện, mắt chị Trung còn đẫm lệ.… Chúng tôi cũng
ngẹn ngào vì xúc động. Ôi! Hai chữ “TỰ DO” mà thuyền nhân
chúng tôi phải trả bằng mọi giá kể cả mạng sống của mình!
Và cũng trong câu chuyện này cho thấy trong tận cùng tuyệt vọng,
những người biết bơi lội cùng đi chung chiếc ghe đã nhẫn tâm đục
thuyền chỉ lo cho cá nhân mình mà không màng gì đến mạng sống
của số người không biết bơi lội một cách tàn nhẫn phũ phàng!
Trên bầu trời xanh, mây trắng vẫn
bay,
dưới ngàn khơi vẫn dạt dào sóng gió…
Một cuộc di tản vượt biên lớn lao trong lịch sử loài người rồi
đây cũng sẽ chìm vào lãng quên phũ phàng của nhân thế.
Những sự hy sinh của ông bà, cha mẹ đã liều mạng đưa con cháu
mình trốn khỏi gông cùm của bọn quỷ đỏ cộng sản dã man, mong sao
con cháu có được tương lai tươi sáng trên vùng đất tự do.
Rồi đây các thế hệ tương lai có nhớ và biết tại sao chúng có mặt
nơi này hay không?

Anh chị Trung và các con Luận,
Văn, Triết và cô bé Tuyền
Ảnh chụp 10 dãy trại mới xây cất, trước khi rời trại tỵ nạn
Kotabharu, năm 1978.
Ngày vượt biên không một ai biết
trước được tương lai của các con cháu mình ra sao?
Rồi 30 năm sau nơi hải ngoại, với tình thương yêu dạy dỗ của cha
mẹ, đến năm 2008, các cháu học hành đỗ đạt, gia đình anh chị
Trần Văn Trung đã có “4 vị Bác Sĩ” tại Hoa Kỳ, nơi vùng đất tự
do này! Sự thành công của các cháu cũng là niềm hãnh diện chung
cho thuyền nhân VN chúng ta….
oOo
Trở lại trại tỵ nạn.
Trong thời gian này lần lượt các phái đoàn Liên Hiệp Quốc của
các nước Pháp, Mỹ, Úc, Tân Tây Lan lần lượt vào nhận đơn xin đi
định cư của người Tỵ nạn. Trong Ban điều hành đã có người được
nhận đi định cư.

- Trưởng trại Hồ Văn Mãnh có người thân
ở Pháp nhưng không muốn định cư ở Pháp nên anh từ chối và Phái
đoàn Mỹ không nhận nên cuối cùng anh đành phải xin định cư ở
Canada cùng với gia đình gồm có chị và 2 cháu.
- Trưởng ban An Sinh Nguyễn Ngọc Châu cùng gia đình đi
California.
- Trưởng ban Xã Hội Trần văn Trung cùng gia đình định cư tại
Texas.
Còn gia đình tôi là quân nhân được ưu
tiên nhưng vì tôi không có giấy tờ để chứng minh chỉ có số quân
mà thôi. Phái đoàn Hoa kỳ nhận đơn nhưng không cho định cư vì
còn phải chờ kiểm tra lại lý lịch của tôi. Trong khi chờ đợi
phái đoàn Hoa Kỳ trở lại trại, Phái đoàn Mỹ bắt buộc gia đình
tôi phải xin đi một nước khác nếu nước đó từ chối thì khi phái
đoàn trở lại sẽ thâu nhận chúng tôi. Hơi thất vọng nhưng cũng
đành phải làm theo lời của phái đoàn vì chúng tôi nghĩ là mình
đã thoát được gông cùm cộng sản được tự do rồi thì bất cứ nước
nào nhận chúng tôi cũng đi….
Lần lượt phái đoàn các nước trên thế giới đến phỏng vấn và nhận
hồ sơ các gia đình tỵ nạn đi định cư nơi nước của họ. Gia đình
tôi cũng đã theo lời của phái đoàn Mỹ, chúng tôi đã nộp đơn xin
định cư tại Úc, phái đoàn Úc lần này có nhân viên Cao ủy LHQ
cùng đến trại. Sau khi xem hồ sơ của gia đình tôi, vị trưởng
phái đoàn Úc đưa hồ sơ cho nhân viên cao ủy để tham khảo rồi hỏi
lý do tại sao gia đình tôi chọn đi Úc?
Tôi trả lời vì phái đoàn Mỹ muốn chúng tôi phải xin đi 1 nước
khác, khi nào nước đó từ chối thì khi phái đoàn Mỹ trở lại mới
cứu xét.
Vị Trưởng phái đoàn Úc lại hỏi tại sao tôi lại chọn đi Mỹ?
- Tôi đáp vì bạn bè đồng đội của tôi đều
ở Mỹ, bây giờ phái đoàn Mỹ chưa chịu nhận. Nhưng vì chúng tôi là
người tỵ nạn cộng sản đi tìm tự do, nước nào nhận chúng tôi cũng
đi. Nếu bây giờ ông đồng ý đón nhận thì gia đình chúng tôi rất
vui mừng được định cư nơi nước ông.
Trưởng phái đoàn Úc trầm ngâm suy nghĩ
rồi nói:
- Theo hồ sơ này đủ điều kiện đi Mỹ. Để
tôi giúp ông bằng cách ghi vào hồ sơ là phái đoàn Úc “đang xem
xét hồ sơ” cho họp lệ với phái đoàn Mỹ, để khi phái đoàn Mỹ đến
gia đình ông nộp đơn xin đi Mỹ lần nữa. Nếu phái đoàn Mỹ từ
chối, thì khi phái đoàn Úc chúng tôi lần sau đến có lý do sẽ
nhận gia đình ông định cư nước Úc.
- Rồi ông Trưởng phái đoàn Úc giải thích: Nếu bây giờ Phái đoàn
Úc ghi “Từ chối” vào hồ sơ thì lần sau Phái đoàn Úc sẽ không
được quyền nhận lại gia đình ông.
Sau khi được vị Trưởng phái đoàn Úc giải
thích rõ ràng, chúng tôi rất cảm động chân tình của ông đối với
gia đình chúng tôi. Tôi ngỏ lời cám ơn ông và phái đoàn Úc.
Hôm nay phái đoàn Mỹ trở lại trại, gia đình tôi cũng nộp đơn xin
đi. Đến lượt gia đình tôi được gọi tên lên phỏng vấn, ông Trưởng
phái đoàn Mỹ cầm trong tay một xấp giấy tờ lý lịch đã được kiểm
tra bằng “Viễn ấn tự” gởi từ bên Mỹ, ông đọc lại lý lịch của tôi
để xác nhận.
Điểm đặc biệt là một vài công tác tôi khai chưa đủ vì không nhớ
rõ cũng được ông đọc lại. Sau đó ông nhận cho gia đình chúng tôi
tuyên thệ với phái đoàn và chờ đợi định cư tại Hoa Kỳ.
Vào khoảng tháng 9-78. Chúng tôi nhận được tin của cao ủy LHQ và
Cảnh Sát Mã cho biết là Việt Cộng đang tranh chấp với Trung Cộng
nên đã ra lệnh trục xuất người Việt gốc Hoa rời khỏi VN, v.v..
Nên Cao Ủy LHQ chuẩn bị phái đoàn các nước nhận hồ sơ cho tất cả
những người tỵ nạn hiện có trong trại sớm được đi định cư, để
đối phó làn sóng tỵ nạn khổng lồ sắp tới.
Bắt đầu thời điểm đó thuyền nhân vượt biên qua dạng bán chánh
thức đầu tiên là người Việt gốc Hoa đến trại với chiếc tàu chở
360 người, đã chết 1 người già yếu vì chịu không nổi sóng gió và
một số người bịnh hoạn kiệt sức vì lạc hướng lênh đênh trên biển
nhiều ngày thiếu ăn thiếu uống.
Làn sóng vượt biên cao điểm bắt
đầu tràn ra khắp nơi trong vùng Đông Nam Á vì Việt Cộng “xả cảng
bán chính thức” đuổi người Việt gốc Hoa ra khỏi VN để bọn chúng
tha hồ vơ vét chia nhau nhà cửa của người vượt biên. Một số
người Việt cũng thừa dịp này trà trộn bằng mọi cách để vượt
biên. Họ ra đi vội vã bỏ lại gia tài của cải, và cũng có người
lén giấu kim cương, vàng bạc, tiền Đô La để đem đi nhưng lại làm
mồi cho bọn hải tặc Thái Lan cướp bóc và hãm hiếp người tỵ nạn
cộng sản trên suốt hải trình tìm tự do qua các nước lân cận
trong vùng Đông Nam Á như Phi Luật Tân, Thái Lan, Mã Lai, Tân
Gia Ba, Nam Dương, xa hơn nữa là qua đến Úc Châu, Tân Tây Lan,
và luôn cả vùng Đông Bắc Á gồm có các nước Nhật, Đài Loan, và
Hồng kông. Vào lúc đó có câu “cộng sản đến đâu nếu cột
đèn mà có chân nó cũng vượt biên.”
Vì muốn chặn bớt làn sóng tỵ nạn các nước láng giềng đó đã nhẫn
tâm xua đuổi mỗi khi thấy thuyền nhân lọt vào hải phận của nước
họ, tàu tuần duyên lôi kéo các ghe thuyền người tỵ nạn ra hải
phận quốc tế, tiếp tế cho xăng dầu, thức ăn nước uống rồi bỏ mặc
cho trôi nổi giữa đại dương mênh mông, lớp thì chết vì gió dập
sóng nhồi vì tài công không biết phương hướng, cứ chạy lòng vòng
rồi hết dầu, thiếu lương thực, hết nước uống, v.v..
Tiếng khóc than, oán hận thống thiết làm chấn động lương tâm
nhân loại khắp cả thế giới. Đã tạo nên lịch sử Thuyền nhân “Boat
People”trên thế giới, và mấy trăm ngàn chuyến ghe thuyền vượt
biên mỗi chiếc đều có một câu chuyện riêng bi ai thương tâm diễn
ra không sao kể hết…. (Theo thống kê có khoảng hơn phân nửa
thuyền nhân đến được bến bờ, và gần phân nửa thuyền nhân
đã gặp nạn vùi thây nơi lòng biển cả…).
Trại tỵ nạn Kota Bharu con số người tỵ nạn càng lúc càng cao. Và
bắt đầu cảnh sát Mã Lai áp dụng biện pháp kiểm soát chặt chẽ hơn
đối với người tỵ nạn đến sau.
Gia đình tôi từ giã trại tỵ nạn Kota Bharu.
Đến tháng 10-78, gia đình chúng tôi cùng với một số người được
cấp giấy tờ đi định cư và được đưa về chỗ tạm cư là một nhà thờ
công giáo gần Thủ Đô Kuala Lumpur để chờ làm thủ tục khám sức
khỏe…. Sau đó gia đình tôi cùng lên phi cơ đi định cư tại Mỹ….
Bỏ lại những kỷ niệm vui buồn trong mấy tháng tạm cư nơi trại tỵ
nạn, những ngậm ngùi lưu luyến của người mang kiếp lưu vong “Đất
nước mình mà mình không thể sống vì họa cộng sản” may nhờ đất
nước Mã Lai giúp đỡ bước chân đầu cho người tìm Tự Do. Chúng tôi
người Việt vượt biên dù cho đi đến góc biển chân trời khắp nơi
trên quả địa cầu, sẽ không bao giờ quên ơn những dân Mã Lai hiền
lành nơi đây!
Khi gia đình chúng tôi xuống phi trường Tiểu Bang Maryland vào
đêm 15-11-1978, được vài gia đình người Mỹ và 2 vị Mục Sư Tin
Lành (Lutheran) đón tiếp gia đình chúng tôi.

Mục sư Paul Milheim, Mục sư Don
Gruenburg và gia đình tôi.
Gia đình tôi
được 2 nhà thờ Lutheran nhỏ bảo trợ ở vùng Cookeville Townson,
thuộc thành phố Baltimore, Tiểu Bang Maryland. Vì là nhà thờ
nhỏ, tín đồ ít nên 2 nhà thờ cùng hợp lại để đủ sức giúp đỡ cho
gia đình chúng tôi.
Chúng tôi đến nơi đây đúng vào mùa Đông bỡ ngỡ đầy tuyết phủ,
nhưng với sự niềm nở của những người địa phương đã tận tình giúp
đỡ cũng đã giúp chúng tôi được ấm lòng nơi xứ lạ, chúng tôi được
tín hữu của 2 nhà thờ giúp sắp xếp thuê mướn Apartment sẵn gần
khu chợ có siêu thị có thể đi bộ để mua thức ăn, và lo cho đi
học anh văn, v.v..
May mắn được một người bạn thân ở Texas đi tu nghiệp tại
Washington DC, hay tin gia đình tôi đã đến Mỹ nên đã thông báo
cho các bạn cùng đơn vị Phủ Tổng Thống đang ở tiểu bang Texas
hay, và sau đó qua vài lần liên lạc tôi quyết định đem gia đình
về thành phố Houston để tìm việc làm vì lúc đó ngành dầu hỏa
đang lên.
Tôi đem ý định đó nói cho 2 vị Mục Sư bảo trợ hay, 2 ông tỏ vẻ
không vui, và giải thích cho chúng tôi biết vì theo chương trình
bảo trợ họ có trách nhiệm lo giúp đỡ cho gia đình tôi trong vòng
2 năm để có đủ khả năng tự lập trong cuộc sống, v.v.. Vợ chồng
ngỏ lời cám ơn và cũng nói cho 2 ông biết ý định của chúng tôi
vì đây là cơ hội chúng tôi có thể tìm việc làm và muốn sớm tự
lập để lo cho con tôi được học hành đến nơi đến chốn.

Di chuyển xuống thành phố
Houston.
Gia đình tôi ở được 3 tháng rồi ngỏ lời cám ơn và từ giã với 2
nhà thờ và các ân nhân bảo trợ để xuống thành phố Houston. Hai
ông Mục sư cũng ngỏ lời chúc cho gia đình chúng tôi đi đường
bình an và được an cư lạc nghiệp nơi vùng đất mới….

Với bước đầu chập chững khó khăn nơi đất
lạ quê người, nhờ các anh chị giúp đỡ chúng tôi vừa đi xin việc
làm vừa lo thi bằng lái xe, người thì lo đứng tên bảo lãnh cho
tôi mướn Apt, người thì giúp tìm mua chiếc xe cũ để đi làm. Cũng
may mắn chỉ trong vòng ½ tháng mà tôi đã có việc làm, có bằng
lái xe và có luôn chiếc xe cũ để đi làm, vợ tôi xin được vào
College học 2 năm theo chương trình CETA, và con trai tôi thì
gởi vào Daycare vào lớp tiền mẫu giáo. Gia đình chúng tôi bắt
đầu cho cuộc sống mới.
Với cảm tình huynh đệ chi binh trong đơn vị đó của các bạn, gia
đình tôi thật cảm động và luôn ghi nhớ tình nghĩa bằng hữu này.
oOo
Kể từ sau ngày 30-4-75. Qua 36 năm (trừ
đi 3 năm tù đày và sống trong gông cùm cộng sản,) gia đình chúng
tôi đã sống một cuộc đời tự do trên đất Hoa kỳ, chúng tôi đã có
thêm một con gái vào năm 1987. Đến nay 2 con chúng tôi cũng đã
ra trường Đại Học và có việc làm tốt. Xin ngỏ lời tri ơn đến
người dân và đất nước Hoa Kỳ đã cưu mang những người tỵ nạn khốn
khổ thoát khỏi họa cộng sản.Và giúp đỡ trong tinh thần nhân đạo
cao quí. Để rồi ngày hôm nay thế hệ thứ hai của chúng ta mới có
cơ hội vươn lên!

Lược đồ hành trình vượt biển tỵ
nạn Cộng Sản của gia đình chúng tôi.

NN Lê
Đình An.
|